Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật giáo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật giáo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2015

Phật Giáo – Nho Giáo – Lão Giáo

Phật Giáo – Nho Giáo – Lão Giáo: Đôi nét về sự hòa hợp giữa ba truyền thống tư tưởng và sự ảnh hưởng của nó lên nền tảng văn hóa dân tộc Trung Hoa



Dẫn nhập 

Trung Hoa là một trong những quốc gia có nền văn minh cổ xưa nhất của nhân loại, tác động rất lớn đến sự hình thành và phát triển màu sắc văn hóa của nhiều quốc gia trên thế giới. Đối với Trung Hoa, tôn giáo lại có một vai trò vô cùng quan trọng trong lịch sử tồn tại và phát triển của nó. Từ nguyên thủy cho đến ngày nay, Trung Hoa luôn là một quốc gia có nhiều tôn giáo, từ loại tôn giáo sơ khai cho đến tôn giáo lớn. Thời kỳ xã hội nguyên thủy, Trung Quốc là một quốc gia theo học thuyết đa thần, song hành với các loại tín ngưỡng là sùng bái, kính nhớ tôn thờ tổ tiên. Tất nhiên, trong suốt chiều dài lịch sử tồn tại và phát triển, nền văn minh Trung Hoa cũng tiếp xúc với nhiều nền văn minh của thế giới. Chính sự tương tác qua lại giữa chúng đã làm cho văn minh Trung Quốc trở nên phong phú và đa dạng hơn. Ảnh hưởng nổi bật và sớm nhất của nguồn văn hóa bên ngoài đối với Trung Hoa cổ đại là sự giao thoa giữa hai nền văn minh tầm cỡ của thế giới, Ấn Độ và Trung Hoa. Trên hơn 4000 năm hình thành và phát triển về triết học của đất nước Trung Hoa (từ khai nguyên cho đến cách mạng Tân Hợi 1911), đã có sự nẩy sinh của rất nhiều học thuyết, nhiều hệ tư tưởng phong phú, sâu sắc mà các học giả thời nay gọi là Tam Giáo (Nho Giáo – Lão Giáo – Phật Giáo) và Cửu Lưu (chín học thuyết lưu truyền: Nho Gia, Đạo Gia, Âm Dương Gia, Pháp Gia, Danh Gia, Mặc Gia, Tung Hoành Gia, Tạp Gia và Nông Gia). Trong tất cả các học thuyết và hệ tư tưởng trên thì đáng lưu ý nhất vẫn là hệ thống tư tưởng Tam Giáo. Mặc dù xét về phương diện tư tưởng, giáo lý và giáo thuyết thì giữa chúng có rất nhiều điểm khác biệt, nhưng không vì thế mà có sự bài trừ nhau, trái lại giữa chúng có một sự hòa hợp hiếm có. Dù rằng, Phật Giáo là một tôn giáo du nhập từ Ấn Độ, nhưng đã được người Trung Hoa điều chỉnh để phù hợp với tâm lý địa phương và cùng với Nho Giáo và Lão Giáo kết thành một hệ thống tư tưởng gọi là ‘Tam Giáo Đồng Nguyên’, nghĩa là cả ba có cùng một cội nguồn siêu hình. Sự hòa hợp giữa ba tôn giáo này đã trở thành một truyền thống ảnh hưởng sâu đậm trên nền tảng văn hóa Trung Hoa, cả về mặt nhận thức, đời sống, luân lý xã hội cũng như cách hành đạo. Trong bài viết này, chúng ta chỉ có thể lược qua đôi chút về sự khác biệt ở giáo lý trước khi nói về sự hòa hợp giữa ba tôn giáo nói trên và sức ảnh hưởng của nó lên nền văn hóa Trung Hoa như thế nào.
tamgiaoI/ Sự khác biệt cơ bản về giáo lý, giáo thuyết giữa Phật Giáo – Nho Giáo – Lão Giáo

1/ Phật Giáo

Có thể nói rằng, sự hiện diện của Phật Giáo trên đất nước Trung Hoa, một vùng đất rộng lớn và đông cư dân này đã mở ra một bước ngoặt mới trong quá trình tồn tại và phát triển của Trung Hoa. Chính cuộc chinh phục của Phật Giáo đã tạo ra một cuộc cách mạng tư tưởng trong mọi lãnh vực đời sống của nhân dân Trung Hoa. Tuy nhiên, Phật Giáo khi vừa du nhập vào đất nước Trung Hoa thì rất khó có thể khẳng định được vị thế quan trọng của mình. Bởi vì tư tưởng và giáo lý Phật Giáo rất khác với tư tưởng cũng như giáo thuyết của cả Nho Giáo và Lão Giáo.
Về hệ tư tưởng: Thứ nhất, Đạo Phật cho thế gian là vô thường, ảo hóa, trong đó có cả bản thân con người. Bước đầu của người tu Phật trong một hình thức nào đó phải xa lìa thế gian. Còn hệ tư tưởng chính của Trung Hoa lúc bấy giờ rất chú trọng đến việc hành động trong thế gian và mưu cầu hạnh phúc giữa thế gian. Thứ hai, Đạo Phật cho hiện tượng giới là một thể “như như” tương tự đại dương, do tâm thức phân biệt mà có sai biệt tướng cho mỗi người. Trong khi đó Trung Hoa quan niệm có hiện tượng giới khách quan, chung cho mọi người, tách biệt hẳn với tâm chủ quan. Thứ ba, Phật Giáo tin vào học thuyết luân hồi. Rằng, con người do tội lỗi của mình có thể phải trải qua kiếp súc vật. Thuyết này quá xa so với các hệ tư tưởng giáo thuyết của Trung Hoa. Thứ tư, Phật Giáo chủ trương cứu cánh là Niết bàn tịch tĩnh, khác xa mơ ước của người Trung Hoa là Phối Thiên của Nho Gia và Thành tiên của Đạo Gia. Thứ năm, Phật Giáo lấy lý tưởng tu hành sống độc thân, còn người Trung Hoa chủ trương “nhất âm, nhất dương”, giữ đạo hiếu với tổ tiên, với việc nối dõi tông đường là vô cùng quan trọng…
Nội dung về Giáo lý gói trọn trong Tứ Diệu Đế hay còn gọi là ‘Bốn Thánh Đế’ mà Đức Phật khởi xướng: Khổ Đế (Kutai), Tập Đế (Jittai), Diệt Đế (Mettai) và Đạo Đế (Dòtai). Trong đó: Khổ đế: Đời là bể khổ. Sinh, lão, bệnh và tử là những cái khổ chính, được xem là 4 cái khổ vật lý. Từ đó sinh ra 4 cái khổ về tâm lý khác: sống chung với người mình không ưa là khổ, xa lìa người mình thân yêu là khổ, mong muốn mà không được là khổ, rồi cái ngũ uẩn, tức là cảm giác, tri giác, ý chí, nhận thức (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) … đều gây ra khổ hạnh cho con người. Tập đế: Sự khổ vốn có nguyên nhân kết tập từ lâu. Nguyên nhân khổ là vô minh, tham, sân, si và vọng động nên con người ham sống, thích vui sướng và càng được lại càng ham, vì những thứ đó không bao giờ thấy đủ nên sinh ra khổ. Đây là nguồn ngốc của sự khổ. Diệt đế: Muốn khỏi khổ não, phải có phương pháp để trừ sự khổ não. Phương pháp chính là phải hạ cái lòng tham xuống, rồi dần dần bỏ nó đi, cuối cùng phải cố loại trừ nó ra bằng được trong con người của mình. Điều này có nghĩa là con người phải từ bỏ ái dục và những điều liên quan tới ái dục ra khỏi mình để thoát ly phiền não. Đạo đế: con đường diệt khổ để giải thoát vĩnh viễn kiếp đau khổ, cần phải dùng đến con đường ‘Bát chính đạo’, tức chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Cũng vì thế mà nhân gian cho rằng Đạo Phật là đạo giúp ta nhập thế để cứu thế và hoằng dương nhân bản. Đạo phật là đạo của chân lý tình thương. Chân lý và tình thương là hai yếu tố chính cấu tạo thành xã hội nhân bản.

Giáo lý nguyên sơ của Phật được gọi là Phật Giáo Tiểu Thừa thì tóm gọn trong ba chủ thuyết: “Chư hành vô thường”, “Chư pháp vô ngã”, và “Tịch tĩnh Niết bàn”. Trong đó ‘Chư hành vô thường’ cho rằng mọi sự đều biến dịch, lưu chuyển không tồn tại vĩnh hằng. Sự biến dịch qua 4 giai đoạn: Sinh – Thành – Dị – Diệt; ‘Chư pháp vô ngã’ thì không thực tướng, gọi cái ngã của ta chỉ là giả tưởng, duyên giả hợp lại như có, và thân ta là do các nhân duyên hợp lại mà thành; Còn ‘Tịch tĩnh’ nói rằng người ta biết rõ hiện tượng là vô thường, mọi thứ đẹp nhất, xấu nhất đều không tồn tại vĩnh viễn mà chỉ là “chấp ngã”, khi phá vỡ cái ta ngã và chấp ngã người ta không còn bị luân hồi chi phối mà đạt tới cảnh giới Niết bàn tức là được giải thoát hay giác ngộ vậy. Giáo thuyết của Đại Thừa thì khác với Tiểu thừa về cách thức thực hành. Do Đại Thừa được sinh ra từ hai nhánh khác nhau của Tiểu Thừa là Đại Chúng Bộ và Nhất Thiết Hữu Bộ. Đại Thừa cho rằng Phật Thích Ca là hóa thân của một thực thể siêu việt. Bởi thế, Giáo lý Đại Thừa còn đề bạt tới một thực thể siêu việt tính đó là “Trí huệ bát nhã”. Nếu như Tiểu Thừa với mục đích là mong giác ngộ và tự giải thoát mình, thì Đại Thừa lại mong giải thoát mình để giải thoát chúng sinh. Việc giải thoát chúng sinh là rất quan trọng và cần thiết, đặc biệt cho sự mong đợi của người dân Trung Hoa thời loạn lạc, chiến tranh. Đó cũng là lý do vì sao, Phật Giáo Đại Thừa du nhập vào Trung Quốc dễ dàng hơn so với Phật Giáo Tiểu Thừa là vậy.

2/ Nho Giáo

Nho Giáo, còn gọi Khổng giáo, là học thuyết do Khổng Tử, tên Khâu, tự là Trọng Ni, sinh tại nước Lỗ thuộc phía Nam tỉnh Sơn Đông ở miền Đông Trung Quốc ngày nay, khai sáng. Tổ tiên của ông vốn là dòng dõi công hầu nước Tống, nhưng do sự đảo lộn chính trị, dòng họ Khổng mất địa vị quý tộc và di cư sang nước Lỗ trước khi sinh ông.

Nhân, Nghĩa, Lễ và Trung Thứ  xem như là hạt nhân của triết thuyết Nho Giáo. Trên nền tảng đó, giới Nho gia đã phát triển thành cả một hệ thống triết học đạo đức, chính trị và lịch sử. Khổng Tử đề xướng một học thuyết quan trọng là ‘Chính Danh’. Theo ông, muốn xã hội có trật tự thì trước hết phải chính danh. Trong mối tương quan xã hội, mọi cái danh đều bao hàm một số trách nhiệm và bổn phận, phù hợp với danh xưng ấy, gọi là thuyết Chính Danh. Có thể được hiểu trong câu nói sau “Vua hãy cư xử cho ra vua, tôi cho ra tôi, cha cho ra cha, và con cho ra con”. Theo Nho Giáo, Đạo Hiếu là nhân tố đạo đức quan trọng nhất trong suốt cả một đời người, có thể được biên soạn trước triều đại nhà Hán. Đạo Hiếu, quy định một số điều rất nghiêm khắc về các hành vi của con cái đối với cha mẹ khi còn sống cũng như khi đã qua đời. Đạo hiếu còn mở rộng đến những mối quan hệ xã hội, giữa người trên kẻ dưới, dân và vua, thậm chí giữa con người với nhau, vì ai có thể thương kẻ khác thì không thể ghét bỏ cha mẹ. Đây là đích điểm tối cao của việc tu thân. Tu thân của Nho Giáo bao gồm: Tam cương, ngũ thường, tam tòng, tức đức. Tam cương là nói đến 3 mối quan hệ: Vua và tôi, Quân và thần, Cha và con, Chồng và vợ. Ngũ thường là 5 điều phải có trong đời là: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Tam tòng tức là 3 điều mà người phụ nữ phải có là: Tại gia tòng phụ, Xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử. Tứ đức là 4 nét đẹp của người phụ nữ: Công, dung, ngôn, hạnh. Hơn hết, đạt Đạo là con đường ứng xử mà người quân tử phải có trong cuộc sống đó là: đạo Vua tôi, đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em, đạo bạn bè. Đạt đức là 3 nhân đức phải đạt được là: Nhân, trí, dũng. Nho Giáo đề cao việc hành đạo của người quân tử. Câu nói: ‘Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ’ như là kim chỉ nam cho tất cả những người quân tử. Đó chính là cách thức hành đạo trong Nho Giáo. Sau khi đã tu thân xong phải ra làm quan, làm chính trị, để bình thiên hạ. Việc trị quốc, bình thiên hạ phải được thực hiện bằng nhân trị: là cai trị bằng tình người, yêu người và coi người như mình. Nho Gia phải là người hướng dẫn, lãnh đạo xã hội, giúp cho xã hội được ổn định, phát triển và thăng tiến. Nho Giáo là đường lối giáo dục con người để trở nên bậc quân tử, thánh hiền. Như vậy, Giáo lý cơ bản của Nho Giáo chính là việc ‘Tu thân’ và ‘Hành đạo’.

Nền tảng của Nho Giáo là học thuyết ‘Thiên mệnh’ coi Thượng Đế (Trời) là một thực tại siêu hình. Còn vua là người thừa mệnh trời cai trị thiên hạ. Vị trí của vua là bất khả xâm phạm, thay trời hành động, để dân có được cuộc sống trật tự, công bằng, ấm no, hạnh phúc. Nếu vua làm trái lệnh trời, mất lòng dân, không còn thích hợp ‘Chính danh’, thì nhân dân sẽ phán xét, lật đổ và sẽ tôn xưng một người khác lên, mà không cần thông qua phiếu bầu. Để phụ tá cho nhà vua cai trị nước, sống mẫu mực và đức hạnh, thông qua thi cử triều đình tuyển chọn một đội ngũ quan chức thiện hảo, lấy nền tảng từ các kinh điển: Ngũ Kinh, Tứ Thư. Số quan chức trí thức này cùng với nhà vua sẽ cai trị điều hành đất nước, về mọi mặt. Những người theo Nho Giáo thì: (1) Tuyệt đối tin tưởng cõi trời và một vị thượng đế độc tôn trông nom hành vi và đức hạnh của con người và triều đình.(2) Tin tưởng rằng con người là sinh vật cao quý nhất được tạo ra bằng tinh túy của trời đất.(3) Tin tưởng vào sự thưởng phạt vì điều tốt và xấu.(4) Tin tưởng vào mối quan hệ hỗ tương giữa cõi trời và đức hạnh của con người, việc làm tốt đem đến điềm lành và việc xấu đem đến sự trừng phạt.(5) Tin tưởng ngành thiên văn như là phương tiện để dự đoán mọi sự kiện và giải thích ý nghĩa về các hiện tượng của trời đất. Tất cả các yếu tố trên đan quyện thành hệ thống toàn diện của triết lý tôn giáo chính trị dưới tên gọi Khổng Giáo trong suốt thời gian dài của lịch sử Trung Hoa và được người ta xem như ‘khuôn vàng thước ngọc’ để xây dựng vương triều, xây dựng nền quân chủ trung ương tập quyền.

3/ Lão Giáo

Lão Giáo là tôn giáo quan trọng thứ hai ở Trung Hoa, nhân vật chủ yếu là Lão Tử và Trang Tử, còn gọi là học thuyết Lão Trang. Tiểu sử của Lão Tử vẫn là một vấn đề còn mơ hồ. Tuy vậy, có một vài thuyết cho rằng ông họ Lý tên Đam, người nước Sở, sống trong thời kỳ Xuân Thu và Chiến Quốc. Có thuyết cho là họ Lí tên Nhĩ, và sau khi chết được gọi là ‘Lão Đam’, sinh trước Khổng Tử khoảng 20 năm. Còn Trang Tử là một ẩn sĩ thích cuộc sống nhàn cư ở núi rừng, không để lối sống công danh ràng buộc. Ông phát triển học thuyết của Lão Tử, và xây dựng nó thành một hệ thống tư tưởng vô cùng sâu sắc. Nếu triết lý Khổng Mặc quan niệm trời là Đấng tối cao, thì Lão Trang đả phá tư tưởng ấy và thiết lập vũ trụ quan mới của triết học Trung Hoa. Để giải thích bản thể của vũ trụ hay Đạo, Lão Trang thiết lập phạm trù triết học ‘Hữu Vô’. Hệ tư tưởng này đã trở thành một trong những triết lý quan trọng nhất của lịch sử triết học Trung Quốc, ảnh hưởng từ thời cổ đại cho đến tận ngày nay. Triết thuyết chủ yếu của Lão Giáo bao hàm trong cuốn “Đạo Đức Kinh” hay “Lão Tử Kinh”, gồm khoảng 5.250 từ.

Lão Giáo là một loại tôn giáo huyền bí tự nhiên, có nhiều điểm dị biệt với Phật Giáo và cả Nho Giáo. Giáo lý cơ bản của Lão Giáo là học thuyết ‘Vô vi’, khí công, thái cực quyền, dịch cân kinh, tẩy tủy kinh, đó là con đường giải thoát khỏi mọi dục vọng. Từ đó, đi sâu vào cõi chân thân, qua chân thân tới đạo. Chân thân là tấm gương phản chiếu của đạo. ‘Vô vi’ không phải là không mà là nguyên lý của vạn vật, là đặc điểm của ‘Đạo’, có nghĩa là vô cực, vô hình, vô sắc, vô thanh, vô danh, vô trạng… đối lập với cái Hữu mà vô nó là nguồn mạch của Hữu. Vô là khía cạnh tiêu cực và bất định của hữu. Hữu va chạm vào nhau tạo ra cái khác và cuối cùng trở về với nguồn là vô. Giới ‘đạo sĩ’ khám phá tự nhiên, biểu hiện sự thích thú của họ về sự khám phá ấy và nỗ lực để đồng nhất với tự nhiên mà họ gọi là Đạo. Đạo là ý niệm cao nhất của tư tưởng Lão Trang. Chính Lão tử dùng ‘Vô’ để chỉ thị Đạo hoặc Đức. Theo Lão Tử, Đạo có hai mặt: Thứ nhất, Đạo là bản thể của thế giới, có trước trời đất vạn vật. Do vì Đạo vô cùng huyền diệu, cao thâm, không thể nào diễn đạt được tướng trạng của nó, vì vậy Lão Tử phải sử dụng khái niệm ‘Vô’ để diễn tả “Vạn vật trong thế giới đều sanh ra từ hữu, hữu sinh từ vô”. Thứ hai, Đạo là quy luật biến hóa chung của mọi sự vật, vừa có trước sự vật, vừa nằm trong sự vật. Quy luật hoạt động của tự thân mỗi sự vật gọi là Đức.

II/ Sự thống nhất hòa hợp giữa ba tôn giáo: Phật  – Nho – Lão

Như đã nói ở phần dẫn nhập, dù rằng, Phật Giáo là một triết thuyết du nhập từ Ấn Độ, nhưng đã được người Trung Hoa điều chỉnh để phù hợp với tâm lý địa phương và cùng với Nho Giáo và Lão Giáo kết thành một hệ thống tư tưởng gọi là Tam Giáo Đồng Nguyên. Sự hòa hợp này được thể hiện qua cuộc sống của người dân bản xứ Trung Hoa, về mặt nhận thức, đời sống, luân lý xã hội cũng như cách hành đạo. Thời kỳ đầu, khi Phật Giáo chưa du nhập vào Trung Hoa, lúc bấy giờ hai học thuyết chủ đạo thống lĩnh hệ tư tưởng người dân đó là học giáo thuyết Nho Giáo của Khổng Tử và Đạo Giáo của Lão Trang. Khổng, Lão là hai bậc thầy sống gần như cùng thời với nhau.

Nhìn bề ngoài giữa hai giáo thuyết Khổng và Lão, trông như có sự kình địch nhau, chống chọi nhau, nhưng hoàn toàn không phải vậy. Người ta thường cho rằng Khổng Tử chủ trương “Hữu Vi” (can thiệp vào việc đời), còn Lão Tử chủ trương “Vô Vi” (không can thiệp). Đó là hai cách thức ứng xử khác nhau của cùng một thời đại: Xuân Thu – Chiến Quốc, thời cực kỳ loạn lạc, chiến tranh liên miên, tội ác tràn lan, đạo lý suy đồi. Khổng Tử cho rằng để giải quyết sự rối loạn xã hội, cần phải dùng Nhân, Nghĩa, Lễ, Nhạc can thiệp vào cho gia đình, xã hội được ổn định trở lại. Còn Lão Tử chủ trương hành động thuận theo lẽ tự nhiên, thì xã hội sẽ trở lại sự đơn sơ ban đầu. Sự đối kháng này thực ra chỉ là ở vẻ bề ngoài theo cái nhìn hời hợt. Nhưng ngày nay, các học giả đều xét thấy, thực chất hai giáo thuyết, hai chủ trương của Khổng –Lão đều bổ sung cho nhau, hòa hợp với nhau như Âm với Dương, đem đến sự quân bình cho xã hội Trung Hoa. Nếu xét đến cùng cực, cả hai giáo thuyết sẽ gặp nhau. Vương Bật viết trong Chu Dịch Lược Lệ: “số đông không thể trị số đông… động không thể chế ngự được động, chế ngự được động là cái Một trinh bền. Cho từ phương diện thống lĩnh, tìm chúng thì vạn vật tuy đông nhưng chỉ do cái Một chế ngự. Con số đại diễn là 50, nhưng chỉ dùng 49, con số 1 không thể dùng, vì số 1 là số tạo ra các số khác. Cho nên Một là Thái cực của Dịch. Nghĩa là Vô không thể hiển minh từ vô nhưng phải bắt nguồn từ Hữu. Như vậy, trong học thuyết của Vương Bật, Vô tương đương với Thái Cực của Dịch và tương đương với Đạo của Lão Tử. Tuy nhiên, sự vận hành của Vô chỉ có thể hiển minh qua Hữu. “Nhất âm, nhất dương chi vị đạo” là vậy. Đạo ở đây vì bản thân vốn là Vô, nên nó yên lặng, tĩnh và vô thể, không hình tượng, khi sự cực độ của động là Hữu được đạt tới, thì thành của Vô được hiện hữu. Hữu cực động thì vô hoàn thành. Bản thân của Vô thì vô hình và ta chỉ thấy thành tựu của vô mà thôi. Trong sách Lão Tử, chương 42 chép: “Đạo sinh Nhất, Nhất sinh Nhị,..”. Chẳng hạn khi nói đến bản tính con người, Khổng Giáo đi từ cõi hậu thiên đi lên với đầy dẫy những yếu đuối, khuyết điểm. Muốn sửa chữa con người, điều chỉnh đời sống cần phải dùng đến Nhân, Lễ, Nghĩa, Nhạc để hướng dẫn. Còn Lão Giáo thì đi ngược lại, từ cõi tiên – thiên đi xuống với con người thuần nhiên tốt đẹp, cho nên coi thường Nhân, Nghĩa, Lễ, Nhạc. Cái khác nhau giữa hai giáo thuyết chẳng qua chỉ ở chỗ hai hướng nhìn, một bên nhìn lên và một bên nhìn xuống khi nhìn về bản chất con người mà thôi. Điểm tột đỉnh nơi hành động tốt lành là “Vô vi” mà Lão Tử chủ trương, về sau Tử Tư trong sách Trung Dung cho “vô vi” là hành động tốt đẹp nhất.

Phật Giáo, được phát triển và cùng dung hòa với Nho Giáo và Lão Giáo cách rõ ràng nhất là vào thời nhà Đường, khi mà Huyền học của Hướng Tú và Quách Tượng phát triển cực điểm. Khi mà Phật giáo phát triển bằng cách dựa vào văn hóa truyền thống của cả Nho giáo và Lão giáo. Các đệ tử Phật Giáo đã chia ra làm nhiều tông phái khác nhau như: phái Trung Quân do Tăng Sinh giải thích Đạo Phật theo quan niệm Lão-Trang; phái Thiền Tông dung hòa thuyết Lão-Trang với Phệ Đà; phái Duy Thức Tông do Huyền Trang khởi xướng mang âm hưởng Triết học Ấn Độ. Ngoài ra, còn một số tông phái Phật Giáo khác mang tư tưởng của Đạo Giáo như phái ‘Hư vô’ của Vương Bật lấy thuyết ‘Vô vi’ làm gốc. Phái Sùng hữu của Bùi Ngỗi quan niệm Vô là toàn Hữu, Thần tiên phái của Bảo Phát Từ lấy Huyền làm gốc. Lúc bấy giờ Triết học thì thiên về vũ trụ luận, Lão- Trang cho ‘Đạo’ là ‘vô’, tức là thực tại vô danh, vì ‘Đạo’ không phải là vật, nên không thể gọi tên Đạo. Đạo là vô, nghĩa là chẳng có gì, là hư không. Cái mà Lão Tử trong tác phẩm Đạo Đức Kinh đã trình bày: “Đạo khả đạo, phi thường đạo, Danh khả danh phi thường danh”. Nghĩa là ‘Thực tại tối hậu có thể giải bày thì chẳng phải là Thực tại tối hậu thường hằng. Tên có thể nêu ra chẳng phải là tên thường hằng’. Theo Lão Tử, bản tính của Đạo là hư không lặng lẽ, xem chẳng thấy, lóng chẳng nghe, rờ không đụng, không lớn, không nhỏ, không trước, không sau, không thể dùng lời nói mà diễn tả được, hoặc đem ra mà so sánh với bất cứ sự vật nào cụ thể được. Lão Tử cho rằng Đạo là tinh thần là bản nguyên của Trời, Đất, vạn vật, nên Trời Đất, Vạn vật là bản thể của Đạo, vì thế Đạo lưu hành trong vũ trụ, tàng ẩn trong muôn vật, cho nên vật nào cũng có phần linh diệu của Đạo bên trong để điều hòa, trưởng dưỡng cho nó. Đạo không có hình trạng, rất khó diễn tả, nên con người chỉ lấy ‘Tâm’ để cảm nhận và hình dung Đạo mà thôi. Cái ‘Tâm’ đó cũng chính là ‘Thân Tâm’ của ngũ uẩn trong Phật Giáo vậy. Chúng ta có thể nhận thấy được có một sự kết nối nào đó giữa ‘Đạo’ của Lão Giáo với ‘Chân Như’, là Phật Tánh, là Bồ Đề của Phật giáo hoặc Đạo là ‘Thái Cực’, là Thiên lý của Nho Giáo. Danh từ tuy khác nhau, nhưng thực sự tất cả đều chỉ cái nguồn cội của càn khôn vũ trụ và vạn vật. Cái nguồn cội ấy khi còn bất động gọi là Đạo. Còn khi đã động mà chuyển hóa thì gọi là Đấng Tạo Hóa, là Thượng Đế, là Trời vậy.

Trong ba tôn giáo nói trên ta thấy ở Phật Giáo và Lão Giáo có sự đề cao hơn về giá trị tâm linh. Tuy rằng, nó mang tính triết lý học hơn là tôn giáo, gần gũi với quy luật thiên nhiên. Hơn nữa, khi nói về Thực tại siêu việt tính thì cái gọi là Thượng Đế, hay Trời là Chúa tể vũ trụ thì nó vẫn còn mập mờ, xa xa chứ không được rõ ràng như Thượng Đế trong Thiên Chúa Giáo, nhưng điểm đáng lưu tâm nhất là tính quy luật nơi thiên nhiên, rất gần gũi với khoa học tự nhiên. Mặt khác, ta thấy ba tôn giáo đều đề cao các giá trị nhân bản, nên được lòng người đón nhận như một chỗ dựa, một niềm tin, gần gũi nơi con người và cũng rất linh thiêng. Đặc biệt là cả ba tôn giáo đều giúp người ta sống nhân ái, yêu thương, vị tha, bao dung, độ lượng, đòi phải xóa bỏ cái tôi vị kỷ, nhỏ bé và những tư lợi nhỏ nhen và đề cao những giá trị tinh thần. Những tôn giáo này đều coi trọng luật nhân quả, coi trọng luật bảo tồn vật chất và năng lượng: “không có gì tự mất, không có gì tự cao”. có thể vì tin tưởng vào những quy luật này mà người ta không còn sợ chết, sợ mất mát. Như thế, quả là có một sự hòa hợp hiếm thấy nơi ba tôn giáo này, giờ đây ta sẽ tìm hiểu đôi chút về sự ảnh hưởng của nó lên nền tảng văn hóa Trung Hoa như thế nào.

III/ Sự ảnh hưởng trên nền tảng văn hóa Trung Hoa 

Nổ lực dung hòa Phật Giáo với Khổng Giáo và Lão Giáo trong thời kỳ đầu có ảnh hưởng rất lớn lên đời sống người Trung Hoa. Để được quần chúng tiếp thu và ủng hộ, Phật giáo phải tìm ra tiếng nói hòa hợp với hai nguồn tư tưởng chủ đạo trên. Trong việc nối kết Phật Giáo với Lão Giáo về nghi lễ quần chúng, cả hai hệ thống đều chủ trương thờ cúng nhưng không sát sanh để cúng tế. Trong việc tu dưỡng thân tâm, Lão và Phật đều nhấn mạnh đến thiền định, rèn luyện sự tập trung, kiểm soát hơi thở, kiêng cữ một số loại thức ăn. Nội dung chính của giáo lý Phật Giáo nhắm đến việc thanh tịnh tư duy và hành động, kềm chế dục vọng, và tránh xa cuộc sống xa xỉ. Mặc dù có một số đạo sĩ tu luyện ‘thuật trường sinh’, nhưng phần lớn ưa thích giáo lý Phật Giáo trong vấn đề kiểm soát dục vọng. Phật Giáo nói đến linh hồn bất tử và tái sinh về cõi trời Phạm Thiên, Lão Giáo tin vào thế giới bất tử ở bên kia Biển Đông hoặc kiếm tìm sự bất tử ở cõi trời Đại Thanh Tịnh… Một yếu tố quan trọng khác liên kết những tôn giáo này lại với nhau là công tác dịch thuật. Trong tiến trình này, những người phụ tá hoặc biên chép cho các danh tăng truyền đạo thời ban sơ được chọn lựa ra từ tín đồ Lão Giáo. Điều này có thể nhận thấy qua việc chọn lựa kinh sách để dịch và thuật ngữ được dùng. Đây là lý do giải thích tại sao phần lớn các dịch phẩm được chọn dịch đều tập trung vào một số chủ đề có liên quan đến Lão Giáo cũng như sở thích của người Trung Hoa thời bấy giờ như rèn luyện sự lưu ý, kiểm soát hơi thở, kiềm chế dục vọng v.v… Thay vì các giáo lý trọng tâm của Phật Giáo như Tứ Đế, Duyên Khởi, Niết-bàn, Vô Ngã… Người ta tin rằng những người phụ tá và biên tập trong công tác dịch thuật, vốn bị ảnh hưởng Lão Giáo, Nho Giáo là những người chọn lựa nội dung kinh sách để truyền bá, chứ không phải các Phật tử làm việc trên, vì các chủ đề ấy đáp ứng đúng nguyện vọng của họ. Cũng có thể nói được rằng sở dĩ số kinh điển mang nội dung trên được giới Tỷ-kheo truyền giáo chọn để dịch và phổ biến vì chúng có thể làm cho nhân dân Trung Hoa dễ dàng tiếp cận và đón nhận giáo lý Phật Giáo hơn.
Thực sự, sau những năm chiến tranh loạn lạc, dân chúng lầm than khổ sở, lý tưởng: “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” của Nho Giáo tuy hay nhưng có vẻ xa vời, không thực hiện nổi. Người ta bắt đầu thấm nhuần tư tưởng giáo thuyết Tứ Diệu Đế của Đạo Phật, “đời là bể khổ” đáng để suy ngẫm. Những cuộc thanh đàm của phái Huyền Học về chữ ‘Vô’ xem ra rất gần với “Vạn pháp giai vô” (mọi sự đều là không) của nhà Phật. Hơn nữa, về ý nghĩa thực thể ‘Chân Như’ của Phật Giáo cũng có phần tương tự với ý nghĩa thực tại ‘Huyền’ trong lý thuyết của Đạo Giáo. Hình thức bên ngoài thì cái không khí thinh lặng, bình an của chùa chiền lại hấp dẫn được tâm hồn của những trí thức đã chán lợi danh, muốn tìm một lối sống giản dị, siêu thoát… Như thế, do sự cọ xát về tư tưởng, cộng với thái độ từ bi của những người tu Phật, những người theo phái Lão-Trang đã không còn thái độ chống đối thời kỳ đầu mà chuyển sang một thái độ dung hòa hiếm thấy. Song song với Lão Trang, Nho Gia cũng đã tìm thấy được ở Phật Giáo lý thuyết về “Tự giác, giác tha” tức là tự giác ngộ về mình rồi mới giác ngộ người khác, rất gần gũi với cương lĩnh “Minh minh đức, thân dân, chỉ ư chí thiện” (làm sáng năng lực sáng, thân yêu mọi người là dừng ở chỗ toàn thiện). Từ đây, Nho giáo, Lão giáo và Phật Giáo trở thành ba trường phái triết học chính, đã cùng nhau phát triển và hình thành nên một khía cạnh mới trong xã hội Trung hoa. Khổng Giáo đã tiếp thu rất nhiều từ Phật giáo và khai sinh nên Tân Nho. Lão Giáo cũng vay mượn giáo thuyết Phật Giáo và mở đường cho các trường phái mới như Kim Chân Đạo và Thái Nhất Giáo. Rồi Phật Giáo cũng hoàn thành việc bản địa hóa của mình và trở thành yếu tố chính và quan trọng trong văn hóa truyền thống Trung hoa. Ảnh hưởng lớn nhất của Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo đối với văn hóa Trung hoa là việc thờ cúng ông bà tổ tiên, là nền tảng và thước đo cho muôn thế hệ sau. Ảnh hưởng lớn thứ hai đó là phương pháp Luyện Công là một phương pháp tập luyện tinh thần, giúp con người được bình an, thoải mái. Chính phương pháp này đã khai triển ra “Niệm Phật tam muội” do Tịnh Thổ Tông khởi xướng, khi niệm như vậy vào luyện Khí Công thì có thể tập trung ý niệm và dần sau này được người Trung hoa áp dụng mỗi khi vào luyện Khí Công.
Trong cái nhìn của người Hán, Phật Giáo chỉ là một hình thức khác của Lão giáo, vì giáo lý và sự thực hành của nó tương tự Đạo giáo. Phật giáo là một phương thức mới để đạt được bất tử. Họ cảm thấy rằng Niết-bàn của Phật Giáo không khác với giải thoát của Lão Tử, A-la-hán thì giống với ‘Chân Nhân’ hay Người Thanh Tịnh… Đức Phật có mối quan hệ chặt chẽ với Thần thánh của đạo Lão. Trải qua hằng trăm năm, Phật Giáo và Lão Giáo đan quyện vào nhau khiến người ta thường suy nghĩ rằng Phật Giáo chỉ là phần phát triển của Lão Giáo. Do bởi một số yếu tố có vẻ giống nhau rõ ràng, thế nên hai hệ thống tôn giáo có sự đan quyện vào nhau rất lâu dài. Điều này lý giải nguyên nhân tại sao trong nhiều thế kỷ Phật Giáo không hiện ra như là một tôn giáo độc lập. Nhờ đó, Phật Giáo có được sự ủng hộ của quần chúng nhân dân, tránh được sự thù nghịch, đối kháng của người bản địa, và có thể vượt qua những thành kiến cực đoan đối với tín ngưỡng ngoại lai.
Một nỗ lực trong việc nối kết Lão-Phật lại với nhau để quần chúng nhân dân chấp nhận tôn giáo ngoại quốc là cuốn “Hoá Hồ Kinh”, Nguyễn Lang cho rằng vì thấy Đạo Phật được giới trí thức nhà Hán hâm mộ, tín đồ Hoàng Lão tạo dựng thuyết Hoá Hồ để gây ảnh hưởng cho Lão Giáo. Theo thuyết này, sau khi biệt tăm tại miền Tây, Lão Tử đi thẳng đến đất Hồ (Ấn Độ); tại đây Lão Tử truyền giáo, cải đạo cho người Hồ và sau đó trở thành đức Phật. Do vậy, Giáo chủ của Đạo Lão và Phật giáo chỉ là một, vì đức Phật Thích Ca chỉ là hiện thân của Lão Tử. Vì hai tôn giáo bắt nguồn từ một mối, do vậy, không có gì khác nhau giữa việc thờ Phật hay Lão Tử. Đây là lời giải đáp cho việc Hán Hoàn Đế xây bàn thờ chung cho Hoàng Lão và Thích Ca ngay trong hoàng cung. “Hoá Hồ Kinh” có thể được ngụy tác ở một địa phương thuộc Đông Trung Quốc, nơi Phật Giáo và Lão Giáo hợp lại với nhau. “Hồi Ký” của Hsiang K’ai (biên soạn năm 166) đề cập đến chuyện này. Tập “Ngụy Sử” của Yu Huan cũng bàn luận đến chuyện Lão Tử du hành về phương Tây, đến Ấn Độ và cải hóa người man di ở đó quy y Phật giáo. Có truyền thuyết cho rằng “Hoá Hồ Kinh” do Vương Phù triều đại Tây Tấn (265-316) biên soạn.

Nòng cốt của Đạo Quân Tử Trung Hoa là cốt ở tu Tâm và dưỡng Tính, kiên định về Tâm và Đạo. Bởi theo Lão Trang thì tất cả mọi sự bởi Đạo mà có. Còn nếu không có Tâm của ta thì không tìm thấy đường mà trở về với Đạo, Đạo và Tâm liên kết chặt chẽ đến nỗi không còn phân biệt được Tâm và Đạo. Mạnh Tử nói: “Hễ tận tâm thì biết bản tính, biết bản tính thì biết được trời”. Tâm chỉ là một tâm mà thôi, là tâm của ta, của mọi người, của thánh hiền hay của trăm năm, ngàn năm trước hay trăm ngàn năm sau thì tâm của thánh hiền vẫn chỉ là một. Bản thể của tâm rất lớn, nếu ta có thể phát triển đến tận đỉnh Tâm tức là đồng nhất với Trời. Tượng Sơn cho rằng: “Lý ấy lấp đầy vũ trụ, đó gọi là ngoài Đạo, không có sự vật, ngoài sự vật không có Đạo”. Nếu bỏ nó, ta có toan tính, xu hướng, quy mô, sự nghiệp, thành tựu thì cũng không can hệ chi đến Đạo. Ông cho rằng đạo thì có khắp vũ trụ, mọi thứ đều do Trời phú bẩm, kể cả Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí. Nếu xa lìa các đức tính ấy là do con người tự sai lầm mà thôi. Như thế, hệ luận Tâm của Lão Tử bắt nguồn từ Trời, qua trời đất đến Đạo. Lão Tử nói rõ: “Thị dĩ thánh nhân, hậu kỳ nhân thi thân tiền, ngoại kỳ thân nhi thân tồn”. Vậy người và trời đất cùng ở trong một vòng dịch chuyển chung: người bắt chước đất, đất bắt chước trời, trời bắt chước Đạo, Đạo bắt chước tự nhiên… Trang Tử sau này tuy không nói rõ Tâm nhưng đã khẳng định: “Thiên địa dữ ngã tính sinh, vạn vật dữ ngã vị nhất”, là trời đất cùng sống với ta, vận vật một thể với ta vậy. Trang Tử nhấn mạnh cái tính là hành động của Tâm, mà tính đó chính là Đạo. Lão Giáo cũng như Nho Giáo đều tin Thiên hay Đạo do tự tồn ở cái Tính. Cứ theo Tính mà hành động thì đạt tới Đạo, sống mà hòa đồng với Đạo là sống theo chân thể, theo bản tính được gọi là Thiên.

KẾT LUẬN 

Con người sinh ra trên cõi đời này như là một cuộc đi về với cội nguồn đã phát sinh. Triết học đông tây qua muôn thế hệ, đặc biệt các tôn giáo là bằng chứng cho điều này. Cuộc hành trình đi tìm Đấng Siêu Việt, tìm về cái nguyên lý cội nguồn phát sinh ra trời đất, vũ trụ và vạn vật. Nguyên lý đó trong tam giáo có thể được gọi bằng những tên gọi khác nhau như “Thiên Đạo” trong Nho Giáo của Khổng Tử; ‘Chân Như’ hay ‘Niết bàn’ trong Phật Giáo; Bản thể ‘Đạo’ trong Lão Giáo hay các tên gọi khác như ‘Vô Vi’, ‘Hữu Vi’, Lý Thái Cực, Vô Cực… thậm chí không thể phân biệt rõ được các thực tại trên nếu xét về nguyên lý tuyệt đối trong mỗi tôn giáo. Điều đó nói lên sự hòa hợp sâu xa giữa các tôn giáo nói chung, cách riêng là ba tôn giáo mà ta khảo cứu Phật –Nho – Lão. Đây là ba trường phái triết học chính, đã cùng nhau phát triển và hình thành nên một khía cạnh mới trong nền tảng văn hóa xã hội Trung Hoa. Khổng Giáo đã tiếp thu rất nhiều từ Phật Giáo và khai sinh nên Tân Nho. Tương tự, Lão Giáo cũng vay mượn giáo thuyết Phật Giáo và mở đường cho các trường phái mới như Kim Chân Đạo và Thái Nhất Giáo. Phật Giáo cuối cùng đã hoàn thành việc bản địa hóa của mình và trở thành thành tố chính và quan trọng trong văn hóa truyền thống Trung hoa. Ảnh hưởng sự dung hòa giữa tam giáo lên nền văn hóa Trung Hoa, biểu thị rõ nhất mà ta thấy được là chỗ: ‘Thánh hiền’ là con người lý tưởng của Nho Giáo; ‘Tiên’ là con người lý tưởng của Lão Giáo; ‘Phật’ là con người lý tưởng của Phật Giáo. Mà tất cả đều quy chiếu vào ‘Trời’ là thực tại Siêu việt, là cội nguồn vũ trụ và vạn vật. Người ta đã kết nối cả ba lại thành: “Trời – Thánh –Tiên – Phật”. Một người chân chính trong hệ “Tam Giáo đồng nguyên” có thể theo Nho nhập thế hành đạo vào tuổi trẻ, có thể theo Lão – Trang để tiêu dao, thanh thoát trong lúc thất bại đau khổ, và có thể theo Phật để giảm trừ tham, sân, si bớt đi những hệ lụy gian trần. Cũng từ đấy mà sinh ra một lý thuyết mới mang đậm nét Trung Hoa, đó là lý thuyết “Đốn Ngộ”, nghĩa là giác ngộ lập tức. Thay vì tu qua nhiều kiếp mới đắc quả Phật, thì Phật Giáo Thiền Tông Trung Hoa chủ trương “Đốn ngộ” với châm ngôn “nhất niệm tương ứng tiện thành thính giác”, tức là trong chốc lát có thể kết hợp “Chân Như” và “Chân Tâm” làm thành một. Sự hòa hợp giữa ba tôn giáo trên ngày nay còn rất dễ nhận thấy nơi các kiểu thức tu ‘Thiền’, hay qua các bộ phim được trình chiếu trên truyền hình; qua các công trình kiến trúc còn để lại…. Hình ảnh và cách thức trang trí ở các chùa chiên, công đền đài nhiều nơi trên đất nước Trung Hoa có sự hòa hợp khi các hình ảnh Khổng, Lão và Đức Phật đều được đặt cạnh nhau trong các miếu thờ, đền Chùa… Hay trong các đền miếu có các kinh kệ của cả Ba tôn giáo ấy.

Thực sự mà nói, nghiên cứu tìm hiểu về sự hòa hợp giữa ba tôn giáo trên, có ảnh hưởng như thế nào đến nền tảng văn hóa Trung Hoa là một đề tài rất phong phú và bổ ích. Tuy nhiên, trong khả năng cũng như tài liệu về số lượng và chất lượng đều có hạn, bên cạnh đó Trung Hoa lại là một quốc gia có nền văn hóa quá lâu đời, đông dân, mang nhiều nét văn hóa cổ khác nhau. Một quốc gia có nhiều triều đại phong kiến nối tiếp nhau, mỗi triều đại, mỗi thời kỳ nó lại chịu ảnh hưởng rất khác nhau. Vì thế, bài viết này chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Tuy nhiên, qua việc nghiên cứu tìm hiểu đề tài này, hy vọng nó sẽ cho ta thêm nhiều bài học bổ ích làm hành trang mục vụ sau này.

Giuse Trần Công Hường
Đại chủng viện Vinh Thanh

Thứ Tư, 31 tháng 12, 2014

VÀI NÉT VỀ : PHẬT GIÁO & KHOA HỌC


Trần Chung Ngọc
http://sachhiem.net/TCN/TCNkh/TCNkh16.php
ngày 14 tháng 9, 2008
Trước hết tôi cần phải nói rõ rằng: “Phật Giáo là một chủ đề vĩ đại, vô cùng vĩ đại với một rừng Kinh Sách, Giáo lý và Triết lý. Hiếm có người có thể tự nhận là mình đã thông suốt toàn bộ Giáo lý của Đức Phật. Thứ đến, Khoa Học cũng là một chủ đề rộng lớn, quá rộng lớn, và tôi tin rằng không một người nào dám nói là mình đã biết hết về Khoa Học. Cho nên, tôi chỉ xin cố gắng trình bày vài nét về đề tài “Phật Giáo & Khoa Học” theo sự hiểu biết của tôi, nhưng tôi tin chắc chắn cũng còn nhiều thiếu sót.
Nói về Phật Giáo & Khoa Học thì trước hết chúng ta cần biết rõ một sự kiện: Hiện nay, không ai có thể phủ nhận là Phật Giáo đang phát triển mạnh trên toàn thế giới, nhất là trong những xã hội Âu Mỹ, những xã hội được coi là tiến bộ nhất về khoa học, kỹ thuật. Điều này phản ánh một sự kiện: trong những xã hội này, con người đã quen với tính chất chính xác và hợp lý của khoa học, và họ ngả theo Phật Giáo vì tinh thần Phật Giáo rất phù hợp với tinh thần khoa học. Hơn nữa, trong lịch sử Phật Giáo, họ không tìm thấy một dấu vết tỳ ố nào về vấn đề chống khoa học hay đàn áp khoa học gia bằng bạo lực, chưa kể là Phật Giáo đã giúp họ giải quyết được một số vấn đề trong thời đại khoa học tân tiến ngày nay. Và hay hơn cả là, trong suốt giòng lịch sử truyền đạo hơn 2500 năm, Phật Giáo chưa hề làm đổ một giọt máu của người vô tội và cũng chưa hề cưỡng bức ai phải theo Phật Giáo. Chủ trương hòa bình của Phật Giáo là điều mà thế giới tranh chấp hỗn loạn ngày nay cần hơn gì hết.
Thật vậy, Joseph L. Daleiden, một học giả Công Giáo, trong cuốn Sự Mê Tín Cuối Cùng (The Final Superstition), xuất bản năm 1994, sau khi phân tích và đánh giá cái di sản Do Thái - Ki Tô (A Critical and Evaluation of the Judeo-Christian Legacy), đã đề nghị những Tín Ngưỡng Khác Thay Cho Thần Giáo (Alternatives to Theism). Về Phật Giáo tác giả viết, trang 424:
Lời giới thiệu hay nhất về Phật Giáo là, giống như Khổng giáo, hệ thống tín ngưỡng này đã hiện hữu trong 25 thế kỷ mà không hề có một cuộc Thánh Chiến, một Tòa Án Xử Dị Giáo, hay một toan tính đế quốc nào nhằm xâm chiếm và phá hủy nền văn hóa của một dân tộc khác. ác.
(The best recommendation for Buddhism is that, like Confucianism, this belief system has existed for twenty-five centuries without a single Crusade, Inquisition, or imperialist attempt to invade and destroy the culture of another people.)
Chúng ta đã biết, Thánh Chiến, Tòa Án Xử và Thiêu Sống Dị Giáo, Săn Lùng Tra Tấn Và Thiêu Sống Phù Thủy, Toan tính Đế Quốc nhằm xâm chiếm và phá hủy nền văn hóa của một dân tộc khác v…v… đều là những núi tội ác của Công giáo mà Giáo hoàng John Paul II đã xưng thú cùng thế giới ngày 12 tháng 3, năm 2000.
Sự phát triển của Phật Giáo vào các xã hội tân tiến Âu Mỹ đã làm cho một số người vô minh trong những xã hội này lo sợ, lo sợ vì ánh sáng trí tuệ và đạo đức của Phật Giáo đã làm cho bóng tối của những mê tín phi lý, phi đạo đức phải lùi dần, và những người xây dựng quyền lực trên bóng tối của vô minh cảm thấy bị đe dọa vì quyền lực thế gian cũng như những đặc quyền vật chất của mình cứ mất dần. Cho nên, đã có bậc chủ chăn của một tôn giáo lớn ở Tây phương đã phải dùng đến hạ sách là viết sách xuyên tạc Phật Giáo để mong vớt vát phần nào niềm tin đã lung lay còn sót lại trong số tín đồ phần lớn ở trong các quốc gia nghèo khổ và kém mở mang. Ngoài ra, cũng có một số người trong Phật Giáo, đưa ra những tương đồng giữa Phật Giáo và Khoa Học với mục đích đề cao Phật Giáo trong thời đại tiến bộ của khoa học. Do đó, đã có một số người lên tiếng chê bai và cho rằng, làm như vậy là "Thấy sang bắt quàng làm họ, dùng những giả thiết trong khoa học để biện hộ cho niềm tin Phật Giáo."
Theo thiển ý, những người dùng khoa học để đề cao Phật Giáo cũng như những người phê phán là “Phật Giáo thấy sang bắt quàng làm họ v..v..” có thể chưa hiểu rõ, dù chỉ là đại cương, hoặc về Phật Giáo, hoặc về Khoa Học, hoặc về cả hai, cho nên mới bị cái hào quang của Khoa Học làm cho mờ mắt và đánh giá sai lầm thực chất của Khoa Học. Họ không thấy được những giới hạn của khoa học vì bản chất tương đối của khoa học và cũng không hiểu được cái niềm tin Phật Giáo là niềm tin về sự thực chứng, kết quả của sự tu tập, mang phúc lợi tới mọi chúng sinh, chứ không phải là một niềm tin mù quáng vào vài giáo thuyết hoang đường. Thật vậy, thực tế là một số Khoa học gia trong vài thập niên gần đây đã phải dùng những tư tưởng trong Phật Giáo để giải quyết những bế tắc trong việc diễn giải những hiện tượng khoa học mà họ khám phá ra, thí dụ như quan niệm "vạn pháp qui nhất", quan niệm "tương duyên, tương tức", quan niệm "dung thông" v..v.. của Phật Giáo. Và cũng thực tế là, trong nhiều bộ môn khoa học, tư tưởng Phật Giáo đã đi trước khoa học khá xa. Cho nên, phê bình là "Thấy sang bắt quàng làm họ" thì có thể đúng với tôn giáo khác, nhưng đối với Phật Giáo thì là một sự phê phán ngược chiều.
Vấn đề tinh thần Phật Giáo không xa lạ với tinh thần Khoa Học đã rõ ràng. Để vấn đề được rõ ràng hơn, chúng ta hãy duyệt qua nhận định của một vài khoa học gia nổi tiếng nhất trong Thế Kỷ 20:
Albert Einstein, cha đẻ của thuyết tương đối, đã phát biểu như sau:
“Tôn giáo tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt trên mọi ý nghĩa về Thượng đế và tránh nói đến những giáo lý và thần học. Tôn giáo ấy sẽ bao quát tất cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên cơ sở đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể mà không rời nhất thể. Phật giáo đáp ứng được những yêu cầu ấy. Nếu có một tôn giáo nào có thể đương đầu được với những nhu cầu hiện đại của khoa học thì đó là Phật Giáo”
[The religion of the future will be a cosmic religion. It should transcend personal God and avoid dogma and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sense arising from the experience of all things natural and spiritual as a meaningful unity. Buddhism answers this description. If there is any religion that could cope with modern scientific needs it would be Buddhism.]
Ngoài ra, Einstein cũng cò đưa ra những nhận xét sau đây:
" PHẬT GIÁO KHÔNG CẦN XÉT LẠI QUAN ĐIỂM CỦA MÌNH ĐỂ CẬP NHẬT HÓA VỚI NHỮNG KHÁM PHÁ MỚI CỦA KHOA HỌC. PHẬT GIÁO KHÔNG CẦN TỪ BỎ NHỮNG QUAN ĐIỂM CỦA MÌNH ĐỂ CHẤP NHẬN KHOA HỌC, BỞI VÌ PHẬT GIÁO BAO GỒM KHOA HỌC, ĐỒNG THỜI CŨNG VƯỢT QUA KHOA HỌC. Phật Giáo là một chiếc cầu nối liền tôn giáo và những tư tưởng khoa học. Chiếc cầu Phật Giáo đã kích thích con người khám phá ra những tiềm năng lớn lao nằm sâu kín trong chính con người và trong môi trường sống chung quanh. PHẬT GIÁO SIÊU VIỆT THỜI GIAN VÀ MÃI MÃI CÓ GIÁ TRỊ."
Trong nhận định của Albert Einstein, có một điểm quan trọng nói lên những sắc thái đặc thù của PG:
PG KHÔNG CẦN XÉT LẠI QUAN ĐIỂM CỦA MÌNH ĐỂ CẬP NHẬT HÓA VỚI NHỮNG KHÁM PHÁ MỚI CỦA KHOA HỌC. PHẬT GIÁO KHÔNG CẦN TỪ BỎ NHỮNG QUAN ĐIỂM CỦA MÌNH ĐỂ CHẤP NHẬN KHOA HỌC, BỞI VÌ PG BAO GỒM KHOA HỌC, ĐỒNG THỜI CŨNG VƯỢT QUA KHOA HỌC.
Tại sao Einstein lại nói như vậy? Chúng ta nên biết rằng Einstein đã được sinh ra và nuôi dưỡng trong cái nôi của tôn giáo Tây phương. Và một bộ óc như của Einstein thì không thể không biết đến cái lịch sử của tôn giáo Tây phương và các luận cứ mà các nhà Thần học bảo vệ tín lý của tôn giáo này đã phải đưa ra để giải thích lại hay từ bỏ những lời mà trước đây họ khẳng định đó là lời của Thượng Đế, không thể sai lầm, để đưa ra một lý thuyết phù hợp với những tiến bộ của khoa học, nhưng thật ra chỉ nhằm mê hoặc số tín đồ với những đầu óc "bảo sao tin vậy". Sau đây là vài thí dụ:
a) Quan niệm trái đất là trung tâm của vũ trụ, trái đất là thế giới duy nhất, mặt trời quay xung quanh trái đất. Đây là những lời của Thượng Đế trong Thánh Kinh nên không thể sai lầm. Cũng vì vậy mà trong thế kỷ 17 Giordano Bruno bị thiêu sống chỉ vì đưa ra một nhận định khoa học rất chính xác là ngoài thế giới chúng ta đang sống còn có nhiều thế giới khác nữa, và Galileo Galilei, tuy là bạn của Giáo Hoàng Urban VIII, cũng bị biệt giam cho đến chết vì dám khẳng định một sự kiện khoa học là trái đất quay xung quanh mặt trời chứ không phải là mặt trời quay xung quanh trái đất như lời Thượng Đế không thể sai lầm được như trong Thánh Kinh. Sau đó khi mà giáo hội không còn quyền lực để đốt người hay giam người nữa thì các nhà Thần học liền tuyên bố: “Kinh Thánh không có ý định dạy về thiên văn, chỉ dạy về sự sáng tạo của Thượng Đế.”
b) Theo Thánh kinh thì vũ trụ được tạo dựng ra trong 6 ngày, cách đây khoảng từ 6000 tới 10000 năm, tùy theo Thánh Kinh. Ngày nay, những khám phá của khoa học cho biết tuổi của trái đất là vào khoảng 4.5 năm, và tuổi của vũ trụ là vào khoảng 13.7 tỷ năm. Các nhà Thần học bảo vệ tín lý bèn diễn giải rằng một ngày trong sự tạo dựng có thể là nhiều ngàn năm chứ không phải là ngày 24 tiếng đồng hồ như chúng ta thường biết. Đây chỉ là luận điệu ngụy biện để nuôi dưỡng các tín đồ trong vòng ngu dốt chứ đối với những người hiểu biết thì lời ngụy biện trên chỉ chứng tỏ sự xảo quyệt của các người chăn chiên. Vì Thánh Kinh viết rõ là mỗi ngày đều có sáng và tối. Và sáng và tối trên trái đất là do chuyển động quay xung quanh trục Nam Bắc của trái đất đối với mặt trời. Mặt khác, dựa trên chương Sáng Thế Ký trong Thánh Kinh, các khoa học gia bèn hỏi lại: Cây cối được tạo ra trong ngày thứ ba và mặt trời ngày thứ tư. Làm sao cây cối có thể sống được nhiều ngàn năm mà không có ánh sáng mặt trời? Các nhà Thần học bèn giải thích: Thượng đế là bậc toàn trí toàn năng, quyền phép vô cùng làm gì chẳng được. Các khoa học gia chơi khăm bèn hỏi lại: “Nếu Thượng Đế là bậc toàn năng thì tại sao lại phải nghỉ xả hơi vào ngày thứ Bảy sau khi hoàn thành sự tạo dựng trong 6 ngày? Và bắt con người cũng phải nghỉ ngày thứ bảy như Thượng đế? Nhưng con người ngày nay, một số người Việt chúng ta làm 2,3 “job” nghĩa là “làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm ngày chủ nhật”.” Câu hỏi này chưa có ai trả lời. Một mặt khác, trước khi tạo dựng ra vũ trụ ngày nay thì trong dòng thời gian vô tận trước lúc tạo dựng Thượng Đế làm gì và dùng cái gì, để tạo dựng ra vũ trụ? Các nhà Thần học bèn nổi sùng và bảo, trước khi tạo dựng cả thiên thu thì Thượng đế còn bận sáng tạo ra hỏa ngục cho những kẻ nào dám hỏi những câu hỏi xúc phạm đến quyền năng của Thượng đế như vậy. Tuy rằng hầu hết các khoa học gia và những người có đầu óc suy luận chỉ cón có cách cười trước những lời giải thích quanh co cuồng tín trên, nhưng đa số tín đồ vẫn tin và rất lấy làm an tâm và hài lòng về những lời giải thích mà họ bắt buộc phải tin là hợp lý.
Trong khi đó các khám phá mới của khoa học không có ảnh hưởng trái ngược hay mâu thuẫn đối với tư tưởng Phật Giáo, chưa kể là trong nhiều bộ môn các tư tưởng PG còn đi trước khoa học khá xa.
Học Giả Egerton C. Baptist (1915-1983), viết trong cuốn “Siêu Khoa Học của Đức Phật” (Supreme Science of the Buddha) như sau:
Phật Giáo bắt đầu ở chỗ khoa học chấm dứt. Khoa học không cho chúng ta sự bảo đảm gì ở nơi đây. Nhưng Phật Giáo có thể đáp ứng sự thách thức của thuyết nguyên tử, vì kiến thức ở trên mức bình thường của Phật Giáo bắt đầu ở nơi mà khoa học chấm dứt. Và điều này khá rõ ràng cho bất cứ ai đã nghiên cứu về Phật Giáo. Bởi vì, qua thiền định, những cấu tử cỡ nguyên tử tạo thành vật chất đã được thấy và cảm nhận, và những sự khổ, với sự sinh và diệt của chúng, đã tự tạo ra trong cái mà chúng ta gọi là linh hồn hay ngã - ảo tưởng của chấp ngã, như giáo lý của Đức Phật dạy.
[Buddhism begins where science ends
“Science can give no assurance herein. But Buddhism can meet the Atomic Challenge, because the supramundane knowledge of Buddhism begins where science leaves off. And this is clear enough to anyone who has made a study of Buddhism. For, through Buddhist Meditation, the atomic constituents making up matter have been seen and felt, and the sorrow, or unsatisfactoriness (or Dukkha), of their 'arising and passing away' has made itself with what we call a 'soul' or 'atma' - the illusion of Sakkayaditthi, as it is called in the Buddha's teaching.” ]

J Robert Oppenheimer ( 1904-1967), Vật Lý Gia Mỹ, nói rằng:

“Thí dụ, nếu chúng ta hỏi, phải chăng vị trí (electron) không thay đổi? chúng ta phải trả lời “không”; phải chăng vị trí của điện tử thay đổi với thời gian? chúng ta phải trả lời “không”; phải chăng điện tử đứng yên? chúng ta phải trả lời “không”; phải chăng điện tử đang di chuyển? chúng ta phải trả lời “không”. Đức Phật đã trả lời như vậy khi được hỏi về tình trạng của cái ngã của con người sau khi chết; nhưng những câu trả lời này không quen thuộc trong truyền thống của khoa học trong thế kỷ 17 và 18.”
[If we ask, for instance, whether the position of the electron remains the same, we must say 'no'; if we ask whether the electron's position changes with time, we must say 'no'; if we ask whether the electron is at rest, we must say 'no'; if we ask whether it is in motion, we must say 'no'. The Buddha has given such answers when interrogated as to the conditions of a man's self after his death; but they are not familiar answers for the tradition of seventeenth and eighteenth century science.]
Sir Edwin Arnold, người nổi tiếng về cuốn thơ Ánh Sáng Á Châu (The Light of Asia), khẳng định rằng:
"Tôi thường nói, và tôi sẽ còn nói hoài, là giữa Phật-Giáo và Khoa- học tân tiến có một mối quan hệ trí thức gần gũi."
(I have often said, and I shall say again and again, that between Buđhism and modern Science there exists a close intellectual bond.)
Bertrand Russell, nhà triết-học và toán-học nổi tiếng hoàn cầu, trong cuốn Lịch sử triết học Tây Phương (History of Western Philosophy) đã viết:
"..Phật-Giáo là một tổ hợp của triết lý suy cứu và triết lý khoa học. Phật Giáo ủng hộ phương pháp khoa học và theo phương pháp này để tới một cứu cánh có thể gọi là thuần lý. Phật Giáo còn đi xa hơn khoa học vì khoa học bị giới hạn bởi những dụng cụ vật lý."
(..Buddhism is a combination of both speculative and scientific philosophy. It advocates the Scientific method and pursues that to a finality that may be called rationalistic...It takes up where science cannnot lead because of the limitations of the latter's physical instruments.)
Tiến sĩ Radhakrishnan:
"Nếu Phật Giáo hấp dẫn đối với trí óc tân tiến đó là vì Phật Giáo có tinh thần khoa học, thực nghiệm, chứ không phải là dựa trên bất cứ giáo điều nào"
(If Buddhism appealed to the modern mind it was because it was scientific, empirical and not based on any dogma.)
Tiến sĩ Graham Howe, nhà Phân Tâm Học nổi tiếng của Anh Quốc. đã nói như sau:
"Đọc một chút về Phật Giáo ta cũng có thể nhận thức được rằng, từ 2500 năm trước, Phật Giáo đã biết về những vấn đề mới về tâm lý nhiều hơn là chúng ta thường biết tới. Họ nghiên cứu những vấn đề này từ lâu và cũng đã tìm ra phương thức giải quyết chúng. Ngày nay chúng ta chỉ khám phá lại trí tuệ thông thái cổ xưa của Đông phương." (To read a little Buddhism is to realize that the Buddhists knew, 2,500 years ago, far more about modern problems of psychology than they have been given credit for. They studied these problems long ago and found the answers also. We are now rediscovering the ancient wisdom of the East.)
Paul Carus, tác giả cuốn sách nổi tiếng "The Gospel of Buddha" , một cuốn sách đã được dịch ra nhiều thứ tiếng như Nhật, Trung Hoa, Đức, Pháp, Tây Ba Nha v...v...và là người đã bảo trợ cho Daisetz Suzuki sang Mỹ để truyền bá đạo Phật mà ông gọi là "Tôn Giáo của Khoa Học" tuy ông không phải là một Phật tử. Paul Carus cho rằng: "Nếu các tôn giáo cổ Tây Phương được tinh khiết hóa bằng cách bỏ đi những sai lầm, nghĩa là những mê tín và điều vô lý trong đó, thì có thể hòa hợp được với Khoa học”. Paul Carus đã tán tụng Đức Phật như là: "Người đầu tiên thực chứng; người đầu tiên phát triển chủ nghĩa nhân đạo; người đầu tiên có tư tưởng tự do cấp tiến; người đầu tiên đả phá Thần tượng; và là nhà tiên tri đầu tiên về tôn giáo của khoa học."
Chúng ta hãy tìm hiểu tại sao những nhân vật nổi danh trên, và nhiều nhân vật khác nữa mà tôi không thể kể hết ra đây, lại đưa ra những nhận định như vậy.
Nói về Phật Giáo [PG] và Khoa Học [KH] thì trước hết chúng ta cần biết những định nghĩa của PG và của KH. Ở đây, chúng ta bị kẹt vì KH thì có thể định nghĩa được chứ PG thì khó mà có thể có một định nghĩa xác đáng. Vậy thì, trước hết chúng ta hãy xét đến định nghĩa của KH và rồi xem xem trong cái định nghĩa này nó có những tương quan gì với Phật Giáo.
ĐỊNH NGHĨA CỦA KHOA HỌC.
Mở cuốn tự điển Merriam Webster ra chúng ta thấy có 5 định nghĩa về KH:
1. Kiến thức thâu thập được bằng khảo sát và thực hành (Knowledge obtained by study and practice)
2. Bộ kiến thức được hệ thống hóa (Department of systematized knowledge)
3. Nghệ thuật hay sự khéo léo (Art and Skill)
4. Một ngành học liên hệ đến sự quan sát và hệ thống hóa các sự kiện, nhất là liên hệ với sự thiết lập những định luật tổng quát có thể kiểm chứng được, chủ yếu bằng quy nạp và giả thiết (A branch of study concerned with observation and classification of facts, especially with the establishment of verifiable general laws, chiefly by induction and hypotheses)
5. Kiến thức chuyên biệt tích tụ được hệ thống hóa và công thức hóa dựa vào sự khám phá ra những chân lý tổng quát hay sự vận hành của các định luật tổng quát (Specifically, accumulated knowledge systematized and formulated with reference to the discovery of general truths or the operation of general laws)
Những kiến thức liên hệ tới thế giới vật chất : Khoa học thiên nhiên (Natural Science)
TINH THẦN KHOA HỌC:
- Dùng đầu óc, luận lý và thực nghiệm để ra khỏi sự ngu tối. (Phật Giáo dùng trí tuệ và thực chứng để phá bỏ vô minh: Người ta thường bảo rằng Phật giáo có một lưỡi gươm duy nhất để diệt một kẻ thù duy nhất: lưỡi gươm này là lưỡi gươm trí tuệ, và kẻ thù này là vô minh.)
- Tinh thần rộng rãi. Gửi học trò đi học các Thầy giỏi. (Khi xưa, các bậc cao Tăng trong Phật Giáo thường gửi đệ tử của mình đi học thêm từ các bậc cao Tăng khác ở Tông phái khác)
- Tinh thần khách quan, tôn trọng sự thật, không để cho thiên kiến chi phối. (Như thực tri kiến)
- Thảo luận hòa hoãn để đi tới chân lý, không khích bác nhau (Khẩu Hoà vô tranh)
- Dung hòa ý kiến, tham khảo để cùng đưa ra một kết luận (Ý hòa đồng duyệt)
- Chia sẻ những kiến thức để đi tới chân lý (Kiến hòa đồng giải)
Nhưng lẽ dĩ nhiên trong giới khoa học gia không có những chủ trương như sau của Phật Giáo:
- Thân Hòa Đồng Trú
- Giới Hòa Đồng Tu
- Lợi Hòa Đồng Quân
VÀI THÍ DỤ VỀ TƯ TƯỞNG PG ĐÃ ĐI TRƯỚC KHOA HỌC:
Ở trên tôi đã trích dẫn nhận định của Tiến sĩ Graham Howe, nhà Phân Tâm Học nổi tiếng của Anh Quốc. như sau:
"Đọc một chút về Phật Giáo ta cũng có thể nhận thức được rằng, từ 2500 năm trước, Phật Giáo đã biết về những vấn đề về tâm lý nhiều hơn là về những vấn đề hiện đại về tâm lý học chúng ta thường biết tới. Họ nghiên cứu những vấn đề này từ lâu và cũng đã tìm ra phương thức giải quyết chúng. Ngày nay chúng ta chỉ khám phá lại trí tuệ thông thái cổ xưa của Đông phương."
(To read a little Buddhism is to realize that the Buddhists knew, 2,500 years ago, far more about modern problems of psychology than they have been given credit for. They studied these problems long ago and found the answers also. We are now rediscovering the ancient wisdom of the East.)
Không phải vô căn cứ mà Tiến sĩ Graham Howe viết như vậy. Nếu chúng ta biết về Duy-Thức Học trong Phật Giáo thì chúng ta thấy rằng các khoa học gia chỉ dùng có 16 phần trăm [16%] của số 100 Pháp được phân loại thành 8 Tâm Pháp, 51 Tâm-Sở-Hữu Pháp, 11 Sắc Pháp, 24 Tâm-Bất-Tương-Ưng Hành Pháp, và 6 Vô-Vi Pháp (Xin đọc Đại-Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận), nghĩa là các khoa-học-gia chỉ xử dụng tới 11 Sắc Pháp trong đó có 5 căn là nhãn căn, nhĩ căn, tỉ căn, thiệt căn, và thân căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân thể); và 6 trần là sắc trần, thinh trần, hương trần, vị trần, xúc trần, và Pháp trần (hình tướng, âm thanh, mùi, vị, cảm giác do tiếp xúc, và bóng dáng của 5 trần trên còn lưu lại trong ý thức khi các căn không còn tiếp xúc trực tiếp với trần nữa), cộng với 5 tâm pháp trong số 21 tâm-bất-tương-ưng hành pháp là thời gian, phương hướng, vận tốc di chuyển, số lượng, và thứ tự (thời, phương, thế tốc, số, và thứ đệ). Ở đây tôi không có ý định đi sâu vào thiên luận 100 Pháp đại thừa mà chỉ muốn nói lên điểm cốt yếu như sau: khi mà khoa học không thể tiến hơn được nữa vì những giới hạn tự tại của 5 căn 6 trần và của những dụng cụ đo lường thì Phật Giáo vẫn tiếp tục đi xa hơn, bởi lẽ Phật Pháp, ngoài sự khảo sát những đối tượng vật chất còn chú trọng nhiều đến những vấn đề tâm linh, cho nên đã vượt qua, đi ra ngoài những giới hạn vật lý của khoa-học. Do đó chúng ta có thể nói Phật Giáo là một Siêu-Khoa-Học (Super-science) như học giả Ergeton Baptist đã nhận định, được thành lập trên căn bản trí tuệ Bát Nhã (trí tuệ nhận thức được thực tướng của vạn Pháp). Trong Phật Giáo, Duy-Thức Học cho chúng ta một hệ thống triết lý, phân tâm học rất đầy đủ và tiến bộ hơn bất cứ hệ thống nào trong khoa học hiện đại.
Sau đây, tôi xin nêu thêm vài thí dụ về cái biết của Phật Giáo như được viết trong Kinh Điển Phật Giáo:
1. Về thế giới vô cùng nhỏ: Chúng ta đều biết rằng, khi xưa Đức Phật thường khuyên các đệ tử trước khi uống nước hãy niệm chú để phổ độ cho các vi chúng sinh có trong nước. Người còn khẳng định trong mỗi bát nước có tới 84000 sinh vật nhỏ nhoi mà mắt thường chúng ta không thể nhìn thấy được. Chúng ta nên hiểu con số 84000 trong Phật Giáo có nhiều ý nghĩa và một trong những ý nghĩa này là tượng trưng cho một con số lớn chứ không phải là một con số chính xác. Hơn 21 thế kỷ sau, vào cuối thế kỷ 16, năm 1595, các khoa học gia đã phát minh ra cái kính hiển vi đầu tiên và nhờ đó đã có thể nhìn thấy trong một giọt nước có một số lớn các vi sinh vật mà mắt thường không thể nhìn thấy được.
Kính Hiển Vi Meiji Techno MT4200
2. Về Thế Giới Vô Cùng Lớn: Quan niệm của Phật Giáo về vũ trụ như sau: thế giới chúng ta đang sống không phải là duy nhất và cũng không phải là trung tâm vũ trụ. Ngoài thế giới chúng ta đang sống còn có rất nhiều thế giới khác, và Phật giáo phân loại các thế giới thành 3 loại: Tiểu Thiên Thế Giới, Trung Thiên Thế Giới, và Đại Thiên Thế Giới. Danh từ thế giới trong Phật -giáo chỉ một thiên thể (thí dụ như trái đất) hoặc một tập hợp các thiên thể được coi như thuộc một nhóm (thí dụ như thái-duơng-hệ mà trái đất là một hành tinh trong đó). Vậy, một ngàn thế giới họp thành một Tiểu Thiên Thế Giới, một ngàn Tiểu Thiên Thế Giới họp thành một Trung Thiên Thế Giới, và một ngàn Trung Thiên Thế Giới họp thành một Đại Thiên Thế Giới. Vậy, lấy đơn vị là một hệ thống tương tự như hệ thống Thái Dương Hệ và gọi là thế giới thì Tiểu Thiên Thế Giới gồm có khoảng một ngàn thế giới, Trung Thiên Thế Giới gồm khoảng một triệu thế giới , Đại Thiên Thế Giới gồm khoảng một tỷ thế giới v..v.. Đó là quan niệm về vũ trụ của Phật Giáo từ hơn 2500 năm về trước. Nhưng sau đó 22 thế kỷ, vào thế kỷ thế 17, Tây phương vẫn còn chưa thoát khỏi quan niệm sai lầm về trời tròn đất vuông, trái đất được coi là trung tâm vũ trụ, và rằng mặt trời quay xung quanh trái đất như đã viết trong Thánh Kinh.
Trở lại quan niệm về vũ trụ của Phật Giáo, chúng ta thấy rằng quan niệm này hầu như tương hợp hoàn toàn với những kiến thức ngày nay của những nhà thiên văn (astronomers) hay những nhà vật-lý-học về thiên thể (astrophysicists), và đã đi trước khoa-học nhiều thế kỷ. Một Tiểu Thiên Thế Giới có thể so sánh với quan niệm hiện đại về một thiên hà (galaxy) gồm có cả triệu ngôi sao và những hành tinh có thể có sinh vật trên đó. Thí dụ như giải ngân hà (Milky Way) hay M31, hay chòm sao (constellation) Andromeda. Một Trung Thiên Thế Giới có thể so sánh với một chùm thiên hà (galactic cluster) thí dụ như chùm Coma Berenices, và một Đại Thiên Thế Giới có thể so sánh với cái mà Hannes Alfven gọi là siêu thiên hà (metagalaxy) ở trong Đại Vũng (Big Dipper) của Tiểu Ursa (Minor Ursa) trong đó có ít ra là cả triệu thiên hà. Cho tới nay, vì những giới hạn tự tại của những dụng cụ quan sát cho nên các khoa học gia chưa thể đi xa hơn trong việc khảo sát vũ trụ. Nhưng không phải vì những giới hạn kỹ thuật này mà vũ trụ cũng bị giới hạn theo, và nay chúng ta đã hiểu tại sao Đức Phật lại "bỏ ngỏ" quan niệm về vũ trụ hữu hạn hay vô hạn. Điều này chứng tỏ Đức Phật đã thấy rõ khả năng vô tận của con người, và rằng Phật Pháp không phải là những giáo điều cứng ngắc không bao giờ thay đổi. Và đây cũng chính là tinh thần khoa học hiện đại, không có gì có thể coi như là vĩnh cửu, bất biến.

Bức hình trên do NASA ghép một số các mảnh thiên hà trong vũ trụ. Từ bên trái hàng trên đên bên mặt hàng dưới: M61, NGC 4449, NGC 4725, NGC 5068, NGC 5247, and NGC 5775/5774. Đa số hình xoắn ốc gần giống như giải ngân hà Milky Way của chúng ta.

Nói đến quan niệm về vũ trụ của Phật Giáo thì chúng ta không thể bỏ qua Kinh Hoa-Nghiêm, phẩm Thế Giới Thành Tựu. Trong phẩm này, Bồ Tát Phổ Hiền tuyên thuyết về 10 đặc tính của các thế giới: nhân duyên khởi, chỗ trụ nương, hình trạng, thể tánh, trang nghiêm tánh, thanh tịnh tánh, Phật xuất hiện, kiếp trụ, kiếp chuyển biến sai biệt, và môn vô sai biệt. Để cho vấn đề tương hợp với khoa học được rõ ràng, sau đây tôi xin luận về hai điểm : hình trạng và kiếp trụ các thế giới. Chúng ta hãy xét đoạn kinh văn sau đây:
Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo đại chúng rằng: "Chư Phật tử! Thế giới hải có nhiều hình tướng sai khác, hoặc tròn....hoặc hình như nước xoáy....hoặc hình như hoa ... có vi trần số hình sai khác như vậy."
Rồi trong phẩm tiếp theo, phẩm Hoa Tạng Thế Giới, Phổ Hiền Bồ Tát lại tuyên thuyết: "Chư Phật tử! Tất cả thế giới chủng đó hình trạng đều khác nhau: hoặc hình núi Tu Di, hoặc hình sông, hoặc hình xoay chuyển, hoặc hình nước xoáy, hoặc hình trục xe...hoặc hình hoa sen...có vi trần số hình trạng như vậy." ("Kinh Hoa-Nghiêm", Thích Trí Tịnh, Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản)
So sánh với những hình trạng của các chòm sao, giải thiên hà, ngân hà khám phá bởi khoa học ngày nay chúng ta thấy Phật giáo đã mô tả hình trạng của chúng một cách vô cùng chính xác. Thí dụ như các hình như bánh xe, nước xoáy chúng ta có thể quan sát được trong các chòm sao như Cetus, Pegasus và Hercules, hình sông là giải ngân hà (Milky Way) và nhiều thiên hà khác, hình dạng như hoa là những khối tinh vân trong khoảng không gian liên-thiên-hà (intergalactic clouds of gas) có chứa hàng tỷ ngôi sao v...v... Thật tôi không thể tưởng tượng được ở một thời chưa hề có kính thiên văn, dù thô sơ nhất, mà Đức Phật và các Đại Bồ Tát đã có những hiểu biết chính xác về vũ trụ như trên. Có cách giải thích nào khác là chúng ta phải tin rằng, do Thiền Định và vì đã giác ngộ hoàn toàn, cho nên các Ngài đã nắm vững được cơ cấu huyền bí của vũ trụ, nếu không thì làm sao có thể biết được những điều như trên. Và chúng ta cũng nên nhớ là những điều đức Phật và các Bồ Tát chọn để tuyên thuyết cho người đời chẳng qua cũng chỉ là một nắm lá trong tay so với số lá cây trong rừng.
Sau đây, tôi xin đưa ra vài hình ảnh mà các khoa học gia đã chụp được trong vũ trụ, và quý vị sẽ thấy những mô tả về hình trạng thế giới trong Kinh Hoa Nghiêm chính xác như thế nào.
Hình xoay chuyển của Thiên Hà NGC 523 Sculptor

Hình bánh xe của Thiên Hà Andromeda
Hình nước xoáy của Thiên Hà [The Spiral Galaxy NGC 2997]

Hình hoa nở của Thiên Hà Trifid
Hình vòng nhẫn của khối tinh vân 250px-M57_The Ring Nebula

Hình núi Tu Di của Thiên Hà M104: The Sombrero Galaxy

Tiếp theo, về kiếp trụ của các thế giới, Kinh văn viết rằng:
"Lúc đó Phổ Hiền Bồ-Tát lại bảo đại chúng rằng: "Chư Phật tử! Nên biết thế giới hải có thế giới hải vi trần số kiếp trụ, hoặc có a-tăng-kỳ kiếp trụ, hoặc có vô-lượng kiếp trụ, hoặc có vô biên kiếp trụ, hoặc có vô đẳng kiếp trụ, hoặc có bất-khả-sổ kiếp trụ, hoặc có bất khả xưng kiếp trụ, hoặc có bất khả tư kiếp trụ, hoặc có bất khả lượng kiếp trụ, hoặc có bất khả thuyết kiếp trụ, ..có vi trần số kiếp trụ như vậy."
Rồi trong bài kệ để tuyên lại nghĩa này Bồ Tát Phổ Hiền có giải thích bằng một câu: "Hoặc chỉ một kiếp hoặc vô số, Bởi những tâm nguyện đều chẳng đồng." Chỉ một câu "bởi những tâm nguyện đều chẳng đồng" cũng đã giải quyết vấn đề "thiên sai vạn biệt" trong vũ trụ. Thật là đầy đủ, thật là rốt ráo, thật là chính xác. Nếu chúng ta đi sâu vào một chút trong đoạn kinh văn trên, chúng ta sẽ thấy Phật Giáo đã đi trước khoa học như thế nào.
Phật giáo phân biệt: Tiểu Kiếp có 16 triệu 8 trăm ngàn năm, Trung Kiếp có 336 triệu năm, và Đại Kiếp có 1 tỷ 344 triệu năm. Theo khoa học hiện nay thì một ngôi sao (coi như là một thế giới) mà chất lượng (mass) càng nặng thì đời sống của ngôi sao càng ngắn. Do đó có những ngôi sao chỉ "sống" được từ 1 tới vài tỷ năm và người ta đã tính được rằng một ngôi sao có chất lượng nhẹ hơn những ngôi sao trên khoảng 90 phần trăm thì ngôi sao này có thể sống tới hàng ngàn tỷ năm. Điều này rất phù hợp với câu kệ trên của Phổ Hiền Bồ Tát, có thế giới chỉ tồn tại một kiếp, có thế giới tồn tại vô số kiếp v...v....
Thứ đến, những danh từ như a-tăng-kỳ, vô lượng, vô biên,...bất khả thuyết có vẻ như mơ hồ và không rõ ràng như những con số trong thời đại khoa học. Thật ra không phải vậy, vì trong phẩm A-Tăng-Kỳ, Kinh Hoa Nghiêm ta đọc được như sau, tôi xin đánh số cho nó rõ ràng hơn:
Phật nói: Này thiện nam tử!
1. Một trăm Lạc Xoa làm một Câu Chi.
2. Câu Chi lần Câu Chi làm một A-Giu-Đa
3. A-giu-Đa lần A-Giu-Đa làm một Na-Do-Tha
4. Na-Do-Tha lần Na-Do-Tha làm một Tần-Bà-La
và tiếp tục như vậy tất cả là 123 lần, trong đó số 104 là A-Tăng-Kỳ, số 106 là Vô Lượng, số 108 là Vô Biên, số 110 là Vô Đẳng, số 112 là Bất-Khả-Sổ, số 114 là Bất-Khả-Xưng, số 116 là Bất-Khả-Tư, số 118 là Bất-Khả-Lượng, và số 120 là Bất-Khả-Thuyết.
Chúng ta biết rằng khoa học ngày nay dùng ký hiệu lũy thừa để viết những con số lớn. Thí dụ như 1 triệu là con số 1 với 6 con số 0 đằng sau, 1 000 000, theo ký hiệu điện toán được viết như sau: 10^6 và đọc là 10 lũy thừa 6; 1 tỷ gồm có 9 số 0 và được viết là 10^9 (billion), lớn hơn nữa là 10^12 (1 ngàn tỷ hay trillion), 10^15 (1 triệu tỷ hay zillion) và khoa học chưa có những danh từ riêng để chỉ những con số lớn hơn. Tiếng Việt thì chỉ tới số tỷ là cao nhất.
Theo Kinh Phật thì 1 Lạc Xoa là 100 ngàn, nghĩa là 10^5. Như vậy 1 Câu Chi là 10 triệu, nghĩa là 10^7; 1 A-Giu-Đa là 100 ngàn tỷ, nghĩa là 10^14; 1 Na-Do-Tha là 10 tỷ tỷ tỷ, nghĩa là 10^28. Tiếp tục tính ra ta sẽ thấy 1 A-Tăng-Kỳ là khoảng, 10^(7.09… x 10^31), nghĩa là con số 1 tiếp theo bởi hơn 7000 tỷ tỷ tỷ con số 0 ở đằng sau, một con số vô cùng lớn nhưng vẫn có một tên riêng. Chúng ta có thể suy ra:
Vô Lượng = 10^(2.83… x 10^32), Vô Biên = 10^(1.13… x 10^33),...
và Bất-Khả-Thuyết = 10^(4.65… x 10^36) nghĩa là con số 1 tiếp theo bởi khoảng hơn 4 tỷ tỷ tỷ tỷ con số 0 đứng đằng sau.
Những con số khoa học hiện đại dùng tới có thể chỉ vào khoảng 10^40 nghĩa là chỉ có 40 con số 0 đứng sau. Chúng ta thấy ngay rằng, ngay cả về phương diện toán số, Phật giáo đã đi trước khoa học khá xa về sự biểu thị chính xác những con số và đã có quan niệm về những con số vô cùng lớn, lớn ngoài mức tưởng tượng của các khoa học gia hiện đại.
Quan niệm nhìn vũ trụ một cách toàn ký (The holographic view of the universe) là một quan niệm mới trong khoa học hiện đại, bắt nguồn từ sự khám phá ra kỹ thuật chụp hình toàn ký vài thập niên trước đây. Kỹ thuật chụp hình toàn ký này đã giúp cho một số khoa học gia giải quyết được một số khúc mắc trong những công cuộc khảo cứu của họ về ký ức của con người cũng như trong ngành vật lý các hạt nhỏ (particle physics). Các khoa học gia này, từ những kết quả khảo cứu mới nhất, đã đưa ra những bằng chứng và đề nghị rằng thế giới của chúng ta ngày nay và mọi thứ trong đó chẳng qua chỉ là những hình ảnh không thực, là những dự phóng của một thực thể vượt ra ngoài thực thể của con người và vượt ra ngoài không gian và thời gian.
Hai khoa học gia được biết đến nhiều nhất trong quan niệm mới này là nhà vật-lý học David Bohm, rất nổi tiếng trong ngành vật lý nguyên lượng (quantum mechanics), thuộc đại học Luân Đôn, Anh quốc, và Karl Pribam, một nhà thần-kinh sinh-lý-học (neurophysiologist) thuộc đại học Stanford, California. Điều đặc biệt là Bohm và Pribam, tuy khảo cứu về hai ngành hoàn toàn khác biệt, cùng phải dựa vào quan niệm toàn ký để giải thích những kết quả khảo cứu của mình. Bohm khảo sát về sự tương tác của các hạt nhỏ trong ngành vật lý tiềm nguyên tử (subatomic physics), và Pribam khảo sát về ký ức của con người trong ngành thần-kinh sinh-lý học. Không đi vào chi tiết, hai khoa học gia trên đều nhận thấy rằng các lý thuyết cũ trong khoa học không đủ để giải thích mọi vấn đề trong các ngành khảo cứu của họ, và khuôn mẫu toàn ký (holographic paradigm) đã giúp họ giải thích một cách hợp lý các kết quả khoa học của họ.
Nghiên cứu kỹ vấn đề, chúng ta có thể nói ngay rằng khuôn mẫu toàn ký chẳng qua chỉ là sự thuyết giải khoa học của một phần nhỏ những quan niệm đặc thù trong Phật Giáo đã có từ nhiều thế kỷ trước như tương duyên, tương tức, tương nhập, tương liên, một là tất cả v...v... Nhưng trước hết, chúng ta hãy tìm hiểu đại cương thế nào là khuôn mẫu toàn ký.
Toàn ký (holography) là một kỹ thuật tạo hình ảnh bằng một loại ánh sáng đặc biệt thường được biết tới tên quen thuộc là ánh sáng LASER và hiện tượng giao thoa (interference) quen thuộc của các sóng. LASER là những chữ đầu của "Light Amplification by Stimulated Emission of Radiation", có nghĩa là "ánh sáng khuếch đại do phát xạ kích thích của bức xạ", hay gọn hơn: "ánh sáng khuếch đại do bức xạ kích thích".
Một phim ảnh toàn ký được tạo ra khi một tia sáng LASER đơn sắc được tách ra làm hai tia riêng biệt. Tia thứ nhất được chiếu trên vật muốn chụp hình, thí dụ một bức tượng Phật, dội lại và hợp với tia thứ hai tạo thành một mô thức giao thoa và được ghi trên một tấm phim ảnh.
Dùng mắt thường mà nhìn thì hình giao thoa trên tấm phim, có tên khoa học là “toàn ký đồ”, không có gì là giống bức tượng Phật cả, mà chỉ là một số mô hình gồm những vòng đồng tâm tương tự như những vòng sóng lăn tăn trên mặt nước khi ta ném một nắm sỏi xuống nước. Hình sau đây chỉ là một thí dụ về toàn ký đồ chứ không phải là toàn ký đồ của bức tượng Phật.
Một Toàn Ký Đồ [A Hologram Pattern]
Nhưng khi ta chiếu qua tấm phim này bằng một tia LASER khác, hoặc đôi khi chỉ cần một ngọn đèn thật sáng, một cái hình nổi của bức tượng Phật sẽ hiện ra. Hình này trông y như thật, ta có thể đi vòng xung quanh hình tượng Phật này và thấy đó là một bức tượng thật, bất kể nhìn dưới góc cạnh nào. Nhưng nếu ta muốn nắm bắt hình tượng Phật này thì ta sẽ không thành công bởi vì khi ta đưa tay vào chỗ hình tượng Phật này thì sẽ không thấy gì, vì thật ra đó chỉ là một ảo ảnh. Ngày xưa Phật đã chẳng nói, Phật thì vô hình vô tướng, làm sao mà nắm bắt được, và Tâm Kinh đã chẳng dạy là "Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc chính là không, không chính là sắc" hay sao?
Nhưng điểm kỳ diệu của kỹ thuật toàn ký là, nếu ta cắt tấm phim ảnh ra làm hai, rồi chiếu lên mỗi nửa tấm phim này bằng một tia LASER, ta sẽ thấy mỗi nửa tấm phim sẽ lại tạo ra hình ảnh của toàn phần tượng Phật. Cứ tiếp tục chia cắt như vậy, mỗi mảnh nhỏ của tấm phim vẫn tạo ra nguyên hình của toàn thể bức tượng tuy càng ngày càng mờ nếu mảnh phim càng ngày càng nhỏ hơn. Nói tóm lại, kỹ thuật toàn ký đã khám phá lại một phần của một quan niệm rất quen thuộc trong Phật Giáo: một là tất cả. Để cho sự so sánh được rõ ràng hơn, có thể chúng ta nên đi thêm vào vài chi tiết trong công cuộc khảo cứu của Pribam và Bohm.
Pribam khám phá ra rằng, ký ức của con người được phân bố đều trong bộ óc và mỗi phần của bộ óc chứa trọn vẹn những thông tin mà bộ óc ghi nhận. Nếu ta cắt bỏ một phần các vùng ký ức, có khi là một phần khá lớn, ở trong óc một người thì ký ức của người đó không bao giờ mất đi một phần, và nếu người đó nhớ một cái gì đó thì bao giờ cũng nhớ trọn vẹn chứ không bao giờ chỉ nhớ một phần, thí dụ như chỉ nhớ 1 phần những người trong gia đình, hay một phần của một khuôn mặt quen thuộc, hay một phần của một câu chuyện mà người đó đã được kể cho nghe.
Khảo sát về sự tương tác giữa các hạt nhỏ trong ngành vật lý tiềm nguyên tử (subatomic physics), Bohm đưa ra nhận định như sau: Thuyết tương đối, quan trọng hơn nữa, cơ học nguyên lượng (quantum mechanics) đề nghị rằng, người ta không thể phân tích thế giới thành những phần riêng biệt và độc lập. Hơn nữa, mỗi phần có vẻ như bằng cách nào đó liên hệ tới mọi phần khác: chứa đựng lẫn nhau hoặc bao hàm nhau.
Chúng ta thấy rằng kỹ thuật toàn ký đã tạo ra một căn bản giải thích những kết quả khảo cứu của Pribam và Bohm. Và Pribam đã đặt một câu hỏi: Nếu các hình ảnh của thực tại ghi trong óc của chúng ta không phải là một hình ảnh như chúng ta thường thấy mà là một toàn ký đồ (hologram), vậy thì toàn ký đồ là cái gì?
Vấn đề khúc mắc là ở chỗ nếu ta chụp hình toàn ký một cảnh, thí dụ một đám người ngồi quanh một cái bàn, và khi rửa phim ra ta thấy không phải là một đám người mà lại là những hình giao thoa, vậy thì thực tại là cái gì? Là những hình ảnh thông thường chúng ta thấy ở ngoài đời ghi nhận bởi quan sát viên/nhiếp ảnh viên hay là những hình mờ ảo giao thoa ghi bởi máy chụp hình/óc con ngườỉ? Pribam ý thức được rằng cái mẫu về "óc toàn ký" với những các kết luận hợp lý của nó đã dẫn đến một vấn nạn về thế giới của thực tại khách quan; thế giới của sông, núi, cây cỏ có thể là không hiện hữu, ít ra là không hiện hữu như chúng ta thường tưởng là hiện hữu. Phải chăng quan niệm về ảo tưởng (maya) của những huyền nhiệm gia cách đây nhiều thế kỷ là đúng, và những cảnh xum la vạn tượng chẳng qua chỉ là vùng rộng lớn các tần số (vast frequency domain) biến đổi thành những sự vật SAU KHI nhập vào các giác quan của con người. Nhưng lãnh vực khảo cứu của Pribam chỉ về ký ức con ngưòi, và khi biết được những kết quả khảo cứu của Bohm, không những Pribam tìm ra được giải đáp cho những thắc mắc trên mà còn biết được rằng, theo Bohm, toàn thể vũ trụ chỉ là một toàn ký đồ (hologram).
Nói một cách vắn tắt thì quan niệm về vũ trụ của Bohm như sau: thực tại mà chúng ta thấy hàng ngày thực ra chỉ là một loại ảo tưởng, giống như một hình ảnh toàn ký. Đằng sau cái thực tại này là một sự xếp đặt sâu sắc hơn của sự hiện hữu mà ta có thể coi như là bản chất rộng lớn của một thực tại từ đó sinh ra mọi sự vật tạo thành thế giới vật chất của chúng ta, giống như một mảnh phim toàn ký tạo ra một toàn-ký-đồ. Bohm gọi cái thực tại sâu sắc này là cấp ẩn (implicate order) hay sự xếp đặt ẩn và những thứ chúng ta thấy thường ngày thuộc cấp hiện (explicate order) hay sự xếp đặt hiện của mọi vật. Nói một cách tóm tắt dễ hiểu thì mọi vật đều sinh ra từ một căn bản chung, và căn bản chung này khi nhập vào giác quan của con người thì sinh ra mọi sai biệt mà chúng ta thường thấy ở ngoài đời.
Nhưng có ai ngờ rằng, những quan niệm về vũ trụ dựa trên khuôn mẫu toàn ký trên đã là những quan niệm đặc thù của Phật Giáo từ bao thế kỷ trước đây. Thật vậy, quan niệm về Chân Không Diệu Hữu, và quan niệm về Tâm Chân Như và Tâm Sai Biệt của Bồ Tát Mã Minh trong Đại Thừa Khởi Tín Luận không khác gì quan niệm toàn ký của Bohm ở trên, nếu không muốn nói là còn sâu sắc hơn và đầy đủ hơn. Và, nếu chúng ta quen thuộc với kinh điển Phật Giáo, nhất là kinh Hoa Nghiêm, thì chúng ta sẽ thấy rằng khuôn mẫu toàn ký và những quan niệm của Pribam và Bohm thực sự đã chậm mất 25 thế kỷ. Để làm sáng tỏ vấn đề này, chúng ta hãy đọc phớt qua chút ít về Kinh Hoa Nghiêm.
Trước hết, chúng ta hãy đọc vài lời tựa của Hòa Thượng Thích Đức Niệm ở đầu mỗi cuốn trong bộ kinh Hoa Nghiêm do Thích Trí Tịnh dịch:
"Kinh Hoa Nghiêm là bộ Kinh Đại Thừa, là vua trong các Kinh, với nội dung siêu việt tuyệt luân hùng vĩ, tráng lệ nguy nga, thể hiện Pháp thân, tư tưởng và tâm nguyện của Phật.
...Tư tưởng Hoa Nghiêm trình bày vạn pháp do tâm sanh. Tâm là thực thể của vạn pháp. Tâm vọng thì vạn pháp hoạt hiện sai biệt, hình hình sắc sắc, trùng trùng duyên khởi, cái này có cái kia có và ngược lại, như lưới đế châu. Tâm chơn thì pháp giới tánh với tâm là một, vạn vật đồng nhất thể....Kinh Hoa Nghiêm, đức Phật chỉ cho chúng sanh thấu rõ cội nguồn của xum la vạn tượng do mê thức vọng tưởng nghiệp duyên hình thành, các pháp hiện hành trong vũ trụ là huyễn hóa, như hoa trong gương, như trăng dưới nước. Tất cả vạn pháp trong pháp giới đều từ tâm sanh. Tâm trùm khắp cả pháp giới. Tất cả vạn hữu vũ trụ có thể nằm gọn trong hạt cải. Hạt cải có thể thâu nhiếp tất cả vũ trụ vạn pháp. Thể tánh của tâm nhiếp thâu tất cả. Tất cả là một, một là tất cả."
Vài lời trên đã tóm tắt phần nào những tinh túy của Kinh Hoa Nghiêm. Thật vậy, chúng ta hãy đọc đoạn sau đây trong Phẩm Nhập Pháp Giới, lời của nữ nhân Thích Ca Cù Ba giảng một pháp môn giải thoát cho Thiện Tài đồng tử:
"Này Thiện Nam Tử!.. Ta quán thân của Bồ Tát, nơi mỗi lỗ chân lông, mỗi niệm thấy vô lượng vô biên thế giới rộng lớn, những sự an trụ, trang nghiêm, hình trạng, những núi, đất, mây, danh hiệu, Phật xuất thế, những đạo tràng, chúng hội, diễn thuyết những khế kinh, những sự quán đảnh, các thừa, những phương tiện, những thanh tịnh.
Lại mỗi niệm nơi mỗi lỗ chân lông của Bồ Tát thường thấy vô biên phật hải, những sự ngồi đạo tràng, những thần biến, thuyết pháp, thuyết kinh hằng không gián đoạn.
Lại nơi mỗi lỗ chân lông của Bồ Tát thấy vô biên chúng sanh hải: những trụ xứ, hình mạo, tác nghiệp, căn tánh...."
Với lời tựa của Hòa Thượng Thích Đức Niệm và lời trích dẫn trong kinh Hoa Nghiêm chúng ta thấy rằng quan niệm toàn ký của các khoa học gia đã dựa vào các tư tưởng của Phật Giáo rất nhiều. Nhưng xét cho kỹ thì quan niệm toàn ký trong khoa học chỉ có tác dụng giải thích một số khúc mắc trong khoa học một cách đại cương trong khi quan niệm về tương thông, tương tức, hay dung thông vô ngại bao trùm mọi pháp giới. Nếu chúng ta đọc đoạn cuối của Kinh Hoa Nghiêm , khi Thiện Tài đồng tử vào trong lâu các Tỳ Lô Giá Na và rồi sau đó gặp Phổ Hiền Bồ Tát thì chúng ta sẽ thấy quan niệm về một vi trần chứa đủ thiên sai vạn biệt trong vũ trụ đã được trình bày với đầy đủ chi tiết và kèm vào đó những công hạnh của Bồ Tát. Và đây chính là điểm vi diệu của Kinh Phật vì ngoài việc dùng để giải thích những sự việc ngoài đời như khoa học, điểm chính yếu là cái dụng của Kinh Phật như sẽ được tóm tắt sau đây.
Chúng ta biết rằng kinh căn bản trong Hoa Nghiêm Tông là Kinh Hoa Nghiêm. Kinh Hoa Nghiêm bao gồm toàn bộ giáo lý Phật Giáo một cách hòa hợp, đa dạng; đó là một kinh được coi là cao nhất trong mọi kinh Phật ở Á Châu. Kinh trình bày một môn siêu hình học vô cùng tiến bộ và là một tập hợp phát triển tư tưởng một cách kỹ lưỡng, tinh tế để dẫn con người tới toàn giác.
Nhưng muốn nhận định đúng giá trị của Kinh Hoa Nghiêm chúng ta phải xét đến cái mặt dụng của Kinh này. Vì chúng ta đã biết, trong Phật Giáo, Kinh Phật thật là vô ích nếu chúng ta chỉ để ý tới phần lý thuyết mà không áp dụng chúng vào đời sống thường ngày. Các thiền sư thường ví những người tìm hiểu kinh mà không thực hành như là những người "đọc thực đơn mà không ăn" hay là "đếm tiền của thiên hạ trong ngân hàng".
Nói một cách ngắn gọn, Kinh Hoa Nghiêm cho chúng ta một tập hợp những phương thức tu tập - một lối nhìn sự vật trên mọi góc cạnh, từ đó khám phá ra sự hòa hợp và bổ túc lẫn nhau tiềm ẩn sau những khác biệt và mâu thuẫn biểu kiến của mọi sự vật ở trên đời. Giá trị của sự tu tập này là sự phát triển một quan điểm tròn đầy, lành mạnh, giúp ta khám phá ra sự thống nhất của mọi Pháp nhưng không phủ nhận sự khác biệt của các Pháp. Từ quan điểm này, con người vượt qua được những ngăn ngại tâm linh do sự chấp vào các sai biệt của vạn vật mà sinh ra. Quan niệm về Chân Đế và Tục Đế của Bồ Tát Long Thọ trong Đại Trí Độ Luận sẽ giúp chúng ta tu tập trong Chân Đế nhưng không quên Tục Đế. Từ đó, với sự phát triển bồ đề tâm, cái quan điểm viên dung này vận hành bất tuyệt trên cách hành xử của các bồ tát trong công cuộc tự giác, giác tha. Một khi hội nhập được vào ý tưởng dung thông vô ngại của Kinh Hoa Nghiêm, với căn bản là bồ đề tâm, hành giả sẽ không còn bị ngăn ngại bởi bất cứ cái gì về cách hành xử trong Bồ Tát Đạo. Hành giả sẽ tự do hành xử để giúp chúng sinh ra khỏi chỗ mê mờ của những giáo lý những điều mê tín không còn thích hợp với sự tiến bộ tri thức của con người ngày nay.
Bài trên đây chỉ có mục đích chứng tỏ rằng các tư tưởng trong Phật Giáo đã đi trước và sâu sắc hơn các quan niệm của khoa học hiện đại nhiều, hiển nhiên tôi không thể đi vào chi tiết của khoa học cũng như Kinh điển Phật Giáo trong một bài viết ngắn. Bạn đọc nào muốn hiểu thêm về bồ đề tâm hay những quan niệm như tương duyên, tương tức, dung thông vô ngại trong Phật Giáo xin hãy chăm đi lễ Chùa và thụ huấn quý Thày. Tôi bảo đảm là các bạn sẽ không cảm thấy lãng phí thì giờ trong việc tìm hiểu kinh Phật vì Kinh Phật là một kho tàng vô giá và vô tận để phát triển trí tuệ con người thay vì giam hãm đầu óc con người trong những ngục tù tâm linh¨


 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Justin Bieber, Gold Price in India