Thứ Ba, 16 tháng 6, 2015

Ai dễ mắc ung thư đại tràng?

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ung thư đại tràng (ruột già) là dạng ung thư gây tử vong cao thứ 4 trên thế giới sau ung thư phổi, ung thư dạ dày, với 939.000 ca mỗi năm. Tỷ lệ mắc bệnh ở cả hai giới là tương đương nhau. Ung thư ruột già là dạng ung thư phổ biến thứ 4 ở nam giới sau ung thư phổi, ung thư bao tử, ung thư gan. Còn ở phái nữ, nó đứng sau ung thư vú, ung thư phổi, ung thư dạ dày.
Ung thư đại tràng (UTĐT) xuất hiện khi các tế bào ở kết tràng và trực tràng tăng sinh bất thường và phân chia vô độ, tạo thành khối u. Tế bào ung thư tấn công và triệt tiêu mô xung quanh. Chúng cũng có thể tách khỏi khối u và lan ra hình thành khối u mới ở các bộ phận khác.
Ai dễ mắc ung thư đại tràng?
Polyp đại tràng có thể bị ung thư hóa.
Nguyên nhân chính xác dẫn tới UTĐT hiện vẫn chưa được y học xác định. Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy nguy cơ gia tăng ung thư có liên quan đến một số yếu tố như:
Độ tuổi: UTĐT có nhiều khả năng xảy ra ở người lớn tuổi. Mặc dù bệnh có thể xuất hiện ở bất kỳ lứa tuổi nào nhưng hầu hết người mắc bệnh đều trên 50.
Polyp (bướu thịt): Là cấu trúc mô tăng sinh lồi lên từ nội mạc ruột già hoặc ruột thẳng, polyp thường gặp ở người trên 50 tuổi. Hầu hết polyp là lành tính (không phát triển thành ung thư). Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng đa phần các ca UTĐT đều phát triển từ polyp. Sớm tầm soát và cắt bỏ cấu trúc bất thường này có thể giúp ngăn ngừa UTĐT.
Familial adenomatous polyposis (FAP - chứng đa polyp có yếu tố di truyền) là bệnh di truyền hiếm với hàng trăm polyp phát triển trong ruột già và ruột thẳng. Do bệnh có nguy cơ cực kỳ cao dẫn tới UTĐT nên thường được chữa trị bằng phẫu thuật cắt bỏ đại tràng và trực tràng.
Tiền sử bản thân: Người từng bị UTĐT có nguy cơ cao tái phát bệnh. Ngoài ra, các nghiên cứu nhận thấy một số phụ nữ có tiền sử mắc ung thư buồng trứng, cổ tử cung hoặc tuyến vú có nguy cơ bị UTĐT cao hơn bình thường.
Tiền sử gia đình: Họ hàng gần (cha mẹ, anh chị em ruột hoặc con) của bệnh nhân cũng có khả năng mắc bệnh, đặc biệt nếu người đó phát bệnh lúc trẻ. Nếu gia đình có nhiều người bị UTĐT thì nguy cơ mắc bệnh tăng cao hơn.
Viêm loét đại tràng hay viêm ruột mạn tính: Bệnh gây viêm và loét nội mạc ruột già. Viêm ruột mạn tính thường xảy ra ở hệ ruột - dạ dày, phần lớn là ruột non. Người bị viêm loét đại tràng hoặc viêm ruột mạn tính có nguy cơ mắc UTĐT cao hơn người không bị một trong hai bệnh này.
Để phòng ngừa kẻ thù đáng ghét
Chế độ ăn uống: Một số bằng chứng khoa học chỉ ra rằng quá trình hình thành UTĐT có thể liên quan với chế độ ăn uống nhiều chất béo và calori, ít thực phẩm chứa chất xơ, như ngũ cốc nguyên hạt, trái cây và rau củ.
Tập thể dục: Nhiều nghiên cứu chứng minh lối sống ít vận động có thể gia tăng nguy cơ UTĐT. Ngược lại, những người tập thể dục thường xuyên có thể giảm nguy cơ phát bệnh.

BS. Nguyễn Anh Tuấn (Bệnh viện Đại học Y Hà Nội

Giảm nỗi lo phổi tắc nghẽn mạn tính

COPD là bệnh do viêm niêm mạc đường thở mạn tính. Bệnh có chức năng phổi xấu dần, liên tục theo thời gian. Điểm quan trọng nhất trong cơ chế bệnh sinh của bệnh là rối loạn thông khí tắc nghẽn không hồi phục. Rất nhiều nghiên cứu thuốc điều trị đã được áp dụng. Tuy nhiên hiện nay chưa có trị liệu nào giúp đảo ngược tiến trình xấu đi liên tục của bệnh. Vì vậy chủ yếu là điều trị triệu chứng viêm trong đợt cấp của phế quản mạn. Việc điều trị bệnh cần được tiến hành liên tục cho đến cuối đời... Tuy nhiên, bạn không nên quá lo lắng vì bạn không phải là người duy nhất mắc bệnh này. Hiện nay, bác sĩ chưa thể chữa khỏi hoàn toàn COPD, nhưng có thể làm giảm triệu chứng, làm chậm quá trình tổn thương ở phổi, cải thiện chất lượng cuộc sống của bạn. Bằng cách người bệnh tuân thủ đúng theo hướng dẫn của bác sĩ, bạn sẽ có thể: bớt khó thở hơn, ít ho hơn, khỏe mạnh hơn, phấn khởi, yêu đời hơn, có thể hoạt động nhiều hơn. Các thuốc điều trị bao gồm các giãn cơ, chống viêm (corticoid) giảm ho, long đờm, thuốc tăng sức đề kháng. Ngoài ra, người bệnh cần tập thở đúng cách; chế độ ăn đủ dinh dưỡng, không lao động gắng sức...
Giảm nỗi lo phổi tắc nghẽn mạn tính
Liệu pháp mới trong điều trị COPD
Phong bế thần kinh phổi đích (Targeted lung denervation: TLD) là liệu pháp điều trị qua nội soi phế quản dựa trên việc cắt thần kinh phó giao cảm phổi, đây là những nhánh thần kinh có vai trò quan trọng trong giải phóng acetylcholine (chất gây co thắt cơ trơn phế quản. TLD được thực hiện thông qua catheter điện tần số radio lạnh kép, được thiết kế cắt tổ chức đích ở sâu với nhiệt độ tối thiểu, tổn thương khu trú ở bề mặt trong của đường thở. Việc cắt tổ chức đích sẽ gây ngưng trệ hoạt động các axon vận động bên trong thần kinh phế quản, do đó gây ngưng trệ dẫn truyền thần kinh phó giao cảm tới phổi, từ đó giảm tiết acetylcholine. Liệu pháp điều trị này do vậy mang lại hiệu quả bền vững. Bên cạnh đó, liệu pháp điều trị mới mang lại tương lai không dùng thuốc trong điều trị COPD. Đây quả thật là điều mang lại rất nhiều hứa hẹn trong điều trị COPD - căn bệnh đến thời điểm này vẫn được xem là rất khó để cải thiện chức năng phổi cũng như tiến triển của bệnh.

BS. Lê Văn Sơn

Viêm da mủ do liên cầu khuẩn

Trong tiết trời nóng bức của mùa hè, cơ thể luôn ẩm ướt do ra nhiều mồ hôi, sức đề kháng của da cũng giảm sút là điều kiện thuận lợi cho các chứng bệnh ngoài da phát triển, trong đó có bệnh viêm da mủ.
Chốc lây: Do tụ cầu khuẩn và liên cầu khuẩn phối hợp gây bệnh. Trẻ em hay mắc bệnh hơn người lớn. Vị trí hay gặp là đầu, mặt, cổ, chân tay. Bệnh rất dễ lây từ trẻ này sang trẻ khác, nên có thể thành dịch ở nhà trẻ, trường học. Ở trẻ em, chốc đầu tạo thành từng đám vẩy vàng sâu dính bết tóc, dưới lớp vảy, da trợt đỏ, rớm dịch. Hạch ở vùng lân cận thường sưng đau. Bệnh có thể gây biến chứng viêm cầu thận cấp biểu hiện bằng phù, tiểu ít, xét nghiệm có protein niệu.
Chốc loét: Là một loại chốc, nhưng tổn thương lan sâu đến trung bì. Thường gặp chốc loét ở bệnh nhân suy dinh dưỡng đang có bệnh đái tháo đường hoặc nghiện rượu. Vị trí: hay gặp ở cẳng chân, cổ chân, nhất là ở chân có giãn tĩnh mạch. Bệnh bắt đầu như chốc lây bằng một phỏng nước hoặc phỏng mủ. Da xung quanh vết loét tím tái, tiến triển dai dẳng, lâu liền sẹo.
Chốc mép: Tổn thương đơn độc hoặc kèm theo các tổn thương khác do liên cầu khuẩn. Hai kẽ mép bị nứt trợt, rớm dịch, đóng vẩy vàng dễ chảy máu, đau rát gây khó ăn, khó uống. Có thể lây do uống chung chén, dùng chung khăn mặt. Thường kèm theo sưng đau hạch dưới hàm.
Hăm kẽ: Thường gặp ở trẻ em, nhất là trẻ em mập mạp hoặc ở người lớn béo phì, ra mồ hôi nhiều. Hăm kẽ thường thấy ở nếp cổ, kẽ bẹn, kẽ mông, kẽ sau tai, rốn. Tổn thương là các đám đỏ, trợt, rớm dịch, phía ngoài thường có viền róc da mỏng, đau rát.
Lời khuyên của thầy thuốc
Để phòng ngừa các bệnh ngoài da thường gặp trong mùa hè nói chung và bệnh viêm da mủ nói riêng, cần phải vệ sinh môi trường sống và thân thể sạch sẽ, không để mồ hôi đọng lại trên người quá lâu, là cơ hội cho vi khuẩn sinh sôi. Không nên ăn quá nhiều đồ nóng có hàm lượng đường cao. Nên sử dụng các loại thực phẩm và rau xanh có tính giải nhiệt. Tăng cường bổ sung vitamin, chế độ ăn nhiều đạm giúp tăng cường sức đề kháng của cơ thể. Với trẻ nhỏ nên tắm bằng nước chè tươi, sài đất, mướp đắng... có tác dụng mát da khử khuẩn và phòng viêm da mủ rất hiệu quả.
Khi có những triệu chứng của bệnh, cần đến cơ sở y tế thăm khám và điều trị sớm để phòng biến chứng như viêm cầu thận, nhiễm khuẩn huyết... Tùy từng dạng viêm da mủ mà bác sĩ cho thuốc điều trị thích hợp, điều quan trọng là người bệnh không tự ý dùng kháng sinh, thuốc bôi, dán cao, đắp lá... và không được gãi cào làm xước vùng da bị viêm, không chích nặn những mụn đang viêm tấy, chưa hóa mủ...

Dấu hiệu chứng tỏ bạn bị viêm dạ dày

Hiện nay, tỷ lệ người mắc bệnh viêm dạ dày rất cao. Bệnh viêm dạ dày mạn tính thường gặp ở người lớn tuổi, tuổi càng cao tỷ lệ mắc bệnh càng nhiều và nguy cơ biến chứng càng tăng nếu điều trị không dứt điểm.
Không có dấu hiệu lâm sàng đặc trưng của viêm dạ dày mạn. Bệnh nhân có những rối loạn cơ năng tương tự như trong rối loạn tiêu hóa xảy ra sớm sau khi ăn, nhất là sau bữa ăn trưa. Đó là cảm giác nặng bụng, ợ hơi, nhức đầu, mặt đỏ, cảm giác đắng miệng vào buổi sáng, buồn nôn, nôn, chán ăn, táo lỏng thất thường; nóng rát vùng thượng vị xuất hiện sau hoặc trong khi ăn, đặc biệt rõ sau khi ăn uống một số thứ: bia, rượu, gia vị cay, chua hoặc ngọt. Đau vùng thượng vị khó chịu, âm ỉ thường xuyên tăng sau khi ăn.
Biểu hiện viêm teo niêm mạc dạ dày là biểu hiện của giai đoạn cuối của viêm dạ dày mạn tính do nhiễm H.pylori và tự miễn dịch, thường là các triệu chứng của thiếu hụt chất cobalamin (vitamin B12) mà nguyên nhân là do thiếu hụt yếu tố nội tiết, chất có tác dụng giúp hấp thu vitamin B12. Bệnh khởi đầu âm thầm và tiến triển chậm chạp. Triệu chứng có thể gặp là: mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, hồi hộp, đau ngực...

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2015

Phòng bệnh tim cho bé

Điều ít ai ngờ, căn bệnh này bắt đầu từ rất sớm, thói quen ăn uống, sinh hoạt, chăm sóc con của cha mẹ là một trong những yếu tố giúp bệnh tim mạch “xâm nhập” cơ thể bé.



Món ngon nhớ lâu

Kinh tế phát triển, món ăn ngày càng phong phú, tiện dụng. Do hạn chế về thời gian, các bà mẹ thường cho con dùng thức ăn nhanh. "Món ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời", các bé khi ăn món gì yêu thích sẽ đòi ăn khi có cơ hội.

Ăn vài lần là ghiền vì phong cách ăn văn minh, ngon miệng, mỗi người một khẩu phần lại còn kèm cả nước ngọt có gas. Ăn không hết khẩu phần thì ăn cố, ăn vài lần là thích và trở thành thói quen nên dễ bị thừa cân béo phì. Đây là nguyên nhân "mở màn" cho các bệnh xơ vữa mạch máu, rối loạn chuyển hóa mỡ, tiểu đường… viếng thăm!

Hiện nay món ăn Việt Nam được đánh giá khá cao về sự hài hòa giữa bốn nhóm thực phẩm, nhiều màu sắc, mùi vị và chất xơ. Để thêm tuổi thêm khỏe, nên cho các bé dùng các món thuần Việt.

"Mối chúa" ẩn mình

Có bà mẹ gọi con mình là "mối chúa" vì bé chỉ thò mặt ra khỏi phòng lúc ăn, thời gian còn lại bé nằm, ngồi chơi cùng ipad. Khi đóng cánh cửa thực tế, đồng nghĩa với mở cánh cửa bệnh tật. Trẻ còn nhỏ mạch máu còn dẻo dai, xương khớp còn cứng chắc sẽ không cảm thấy ngộp, đau nhức như các bậc trưởng lão, nhưng dễ thấy nhất là thừa cân, béo phì.

Khói thuốc làm bé yếu

Nhiều người cha thương con vô cùng nhưng lại nghiện thuốc lá vô kể, vừa chở con đi chơi vừa hút thuốc; vừa hút thuốc vừa cho con ăn; vào phòng ngủ với con cũng phì phà.

Ai cũng biết hút thuốc thụ động có hại cho sức khỏe, nhưng ít ai biết trẻ em bị ảnh hưởng nhiều nhất vì hệ cơ quan của trẻ chưa phát triển hoàn thiện, sẽ nhạy cảm hơn với các chất độc có trong khói thuốc.

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học nước ngoài, trẻ thường xuyên tiếp xúc với khói thuốc lá thì mảng bám trong lòng động mạch cảnh tăng lên gấp hai lần. Các mảng bám này có thể gây nghẽn mạch máu, tạo cơ hội cho bệnh tim mạch trú ngụ. Trẻ có bố mẹ hút thuốc lá có nguy cơ cao mắc bệnh tim khi trưởng thành.

Muối gây nghiện

Theo Viện Dinh dưỡng Quốc gia, người Việt Nam hiện đang dùng 18-22gr muối/người/ngày. Khuyến cáo của Cơ quan Quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA), mỗi ngày chỉ nên sử dụng 3 - 6gr muối. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo, để giữ sức khỏe không nên ăn quá 6gr muối/người/ngày (tương đương một muỗng cà phê muối).

Tính ra, chúng ta dùng muối nhiều gấp ba lần so với lượng muối cho phép, có thể dẫn đến nguy cơ cao tăng huyết áp, tim mạch và đột quỵ. Điều đáng ngại là chính các bà mẹ, các đầu bếp nhà trẻ khi nấu cho các bé ăn lại dùng chính tiêu chuẩn độ mặn ngon (theo khẩu vị người nấu) để nêm nếm. Bé đã quen vị mặn thì khi trưởng thành khó lòng ăn ít muối vì nhạt nhẽo nuốt không trôi.

BS Nguyễn Thị Kim Hưng - Trung tâm Làm giàu Thế giới nội tâm TPHCM giải thích: "Một chất được gọi là gây nghiện khi không cần thiết cho cơ thể nhưng lệ thuộc buộc phải dùng. Muối được cấu thành từ clo và natri, hàm lượng các chất này trong thức ăn (chưa nêm nếm) đã đủ cho cơ thể. Chúng ta ăn vì nghiện".

Sự nghiện ngập này sau hai mươi, ba mươi năm sẽ làm tăng áp lực mạch máu, dẫn đường cho bệnh cao huyết áp xuất hiện, lôi kéo thêm các "hậu sinh khả úy" khác như: xơ vữa mạch máu, loạn nhịp tim, suy thận, đột tử…

Do đó, để bảo vệ cả hệ thống tim mạch và thận cho bé, cha mẹ cần cho con ăn nhạt hơn mình. Bé đã quen vị nhạt sẽ hình thành thói quen, từ chối khi gặp các món nêm mặn. Những ai ở độ tuổi thanh niên, trung niên đã lỡ ăn mặn trong thời gian dài cần cai bớt muối, có như vậy trái tim mới không bị chết non.

Theo Phương Nam - Phụ nữ TPHCM

Đái tháo đường làm tăng nguy cơ đột quỵ não

Đột quỵ não là một trong những nguyên nhân dẫn đến tử vong và gây nhiều hậu quả nặng nề hàng đầu. Trong đó, nguy cơ mắc đột quỵ não ở người bị đái tháo đường cao gấp 2 - 4 lần so với bình thường.
Đái tháo đường làm tăng nguy cơ đột quỵ não
Đột quỵ não ở người bị đáo tháo đường cao hơn bình thường (Ảnh minh họa)
Mạch máu bị tổn thương là điều kiện hình thành cục máu đông, từ đó gây tắc mạch máu, dẫn đến đột quỵ nhồi máu não. Trên thực tế, tỷ lệ tăng huyết áp cao gấp 1,5 - 3 lần so với người bình thường. 
Đó là lý do vì sao ở bệnh nhân đái tháo đường lại có nguy cơ đột quỵ não cao. Mặt khác, hầu hết bệnh nhân đái tháo đường thường kèm theo tăng cholesterol trong máu, làm nguy cơ hình thành mảng xơ vữa động mạch, hẹp lòng mạch hoặc tắc hoàn toàn tăng lên. Bởi vậy, đây chính xác là những nguyên nhân khiến cho bệnh nhân đái tháo đường dễ bị đột quỵ não.
Một trong những triệu chứng thường gặp ở người bị đột quỵ não là đột ngột đau đầu dữ dội không rõ nguyên nhân. Bên cạnh đó, cũng không thể bỏ qua được những dấu hiệu như giảm thị lực, yếu hoặc liệt một bên tay, chân, nói ngọng,… kèm theo buồn nôn, chóng mặt ù tai,… Đột quỵ não là bệnh vô cùng nguy hiểm nếu không được cấp cứu kịp thời, bệnh nhân có thể bị rơi vào trạng thái hôn mê hoặc tử vong. 
Tuy nhiên nếu vượt qua được, những hậu quả nặng nề như: tàn phế, liệt, không tự chủ được trong cuộc sống,… vẫn có thể "đeo bám" người bệnh. Vì vậy, dự phòng đột quỵ cũng như kiểm soát các bệnh có nguy cơ dẫn đến đột quỵ là điều vô cùng cần thiết.
Có thể nói, việc kiểm soát, dự phòng các yếu tố gây đột quỵ như cholesterol, đường huyết, chức năng gan, thận, huyết áp,… là hết sức quan trọng và đối với người bị đái tháo đường lại cấp bách hơn cả. 
Trong điều trị, khi bệnh nhân đã bị đột quỵ nhồi máu não , thường được chỉ định dùng thuốc chống kết tập tiểu cầu, thuốc chống đông máu, thuốc tiêu huyết khối,… Đặc biệt với thể xuất huyết não, có thể dùng thuốc chống co thắt như: transamin, nimodipine,… cầm máu. Song, các thuốc này dễ gây nhiều tác dụng phụ để lại biến chứng nguy hiểm.
Đái tháo đường làm tăng nguy cơ đột quỵ nãoẢnh minh họa
Nhằm khắc phục những hạn chế trong việc điều trị đột quỵ não, nhiều phương pháp tiến bộ đã ra đời. Một trong những xu hướng được nhiều người đang áp dụng hiện nay là sử dụng các sản phẩm không gây tác dụng phụ khi dùng lâu dài, có nguồn gốc thiên nhiên. Các chế phẩm có thành phần nattokinase là đại diện tiêu biểu. Dòng sản phẩm này đã đem lại hiệu quả ngoài mong đợi với nhiều công trình nghiên cứu khoa học.

Những nguyên nhân không ngờ dẫn đến bệnh gan

Béo phì

Béo phì thường dẫn đến tích tụ chất béo trong gan, dẫn đến nhiễm trùng. Căn bệnh này thường được gọi là gan nhiễm mỡ không cồn. Đôi khi, bệnh gan nhiễm mỡ không cồn sẽ gây xơ gan. Nếu bệnh xơ gan phát triển, gan sẽ từ từ ngừng hoạt động.  

Di truyền 

Di truyền có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc gây bệnh gan. Các gen chúng ta kế thừa từ cha mẹ có thể xác định nguy cơ chúng ta có mắc bệnh gan hay không. Một số dạng bệnh gan, bao gồm các bệnh Wilson, dẫn đến tích tụ đồng, và hemochromatosis, khiến cơ thể dư thừa chất sắt - là kết quả của những gen di truyền bất thường. Tiếp đó, tyrosinemia, hội chứng Alagille và galactose là những ví dụ của bệnh gan do di truyền, các bệnh này có thể đe dọa tính mạng của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.

bệnh gan 2

Hệ thống miễn dịch của bạn

Có một số bệnh gan mà là hậu quả của hệ miễn dịch bị tấn công. Viêm gan, xơ viêm ống mật chính chính là các bệnh liên quan đến các hệ thống miễn dịch. Tuy nhiên, các nghiên cứu vẫn chưa lý giải được hệ miễn dịch sẽ hỗ trợ gan như thế nào, hoặc lý giải nguyên nhân một số người dễ mắc bệnh gan hơn những người khác.

Một số chế phẩm y tế

Là một cơ quan được giao nhiệm vụ xử lý tất cả các loại thuốc trước vào cơ thể, gan có thể bị tổn thương do sự kết hợp độc dược hoặc dùng thuốc quá liều. Sử dụng acetaminophen (thuốc giảm đau) quá liều là nguyên nhân hàng đầu của suy gan cấp tính ở Canada.

Xăm hình

Điều này có thể làm bạn bất ngờ. Viêm gan B và virus viêm gan C có thể lây lan qua mực xăm bị nhiễm bẩn hoặc các thiết bị không được tiệt trùng đúng cách. 

Sex không được bảo vệ 

Các loại virus viêm gan B có thể bị lây trong quan hệ tình dục. Siêu vi viêm gan B có thể lây bệnh nhanh hơn cả virus HIV và có thể lây lan qua máu hoặc chất dịch cơ thể. Các vi-rút viêm gan C lây truyền qua tiếp xúc với máu bị nhiễm bệnh. 

bệnh gan 1

Đi du lịch

Viêm gan A có thể lây lan qua nước hoặc thực phẩm bị ô nhiễm, trong khi viêm gan B được lây nhiễm qua máu hoặc chất dịch cơ thể. Có một số cảnh báo sức khỏe công đồng liên quan đến bệnh viêm gan A tại Canada liên quan đến chế biến thực phẩm tại các nhà hàng và các cửa hàng tạp. Để bảo vệ bản thân, bạn cần được tiêm phòng trước khi đi du lịch. 

Hút thuốc 

Bên cạnh rượu, hút thuốc lá có thể gây tổn thương gan nghiêm trọng và gây ung thư gan. Một nghiên cứu đã nhấn mạnh hút thuốc là tăng đáng kể nguy cơ mắc bệnh ung thư gan. Gần một nửa các trường hợp mắc bệnh ung thư gan có liên quan đến hút thuốc, theo Quỹ Ung thư Mỹ.

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Justin Bieber, Gold Price in India